CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE HOAT DONG BAO HIEM TIEN GUI 1. Khái quát về bảo hiểm tiền gửi 1. Khái niệm, bản chất bảo hiểm tiền gửi 1. Khái niệm Hoạt động của các tổ chức tài chính nói chung và các ngân hàng nói riêng luôn có những rủi ro, trong đó mất khả năng thanh toán là rủi ro lớn nhất.
Hậu quả có thể dẫn tới là tê liệt hệ thống tài chính quốc gia, bat 6n x4 hội và giảm sút niềm tin của các nhà đầu tư. Một trong những công cụ phòng ngừa được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay là bảo hiểm tiền gửi (BHTG). Bảo hiểm tiền gửi là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tô chức tham gia bảo hiểm tiền gửi (TCTG BHTG) và người gửi tiền về việc tổ chức BHTG sẽ chỉ trả tiền gửi được bảo hiểm cộng với tiền lãi nhập gốc cho người gửi tiền khi TCTG BHTG bị chấm dứt hoạt động và mắt khả năng thanh toán cho người gửi tiền (Phùng Văn Hùng, 2009, tr. Cam kết công khai này được thể hiện dưới hình thức một hợp đồng bảo hiểm gồm có ba đối tượng: tô chức BHTG, TCTG BHTG (các định chế trung gian tài chính có huy động tiền gửi) và người gửi tiền.
Việc phát triển hoạt động BHTG về qui mô nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tài chính tiền tệ của quốc gia trong nền kinh tế phát triển và hội nhập là một tất yếu khách quan. Trách nhiệm và quyền lợi tài chính của ba đối tượng được thể hiện như sau: - Tổ chức bảo hiểm tiền gửi: là đối tác nhận đóng góp tài chính từ các TCTG BHTG và có trách nhiệm chỉ trả tiền gửi cho người có tiền gửi tại các tổ chức huy động tiền gửi, trong trường hợp có sự đỗ vỡ từ các TCTG BHTG. Trang 3 - Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi (tổ chức huy động tiền gửi): là các định chế trung gian tài chính bao gồm các ngân hàng thương mại (NHTM), các tổ chức phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi. Các tổ chức này khi tham gia đóng góp tài chính cho tô chức BHTG và được quyền yêu cầu tô chức BHTG phải chỉ trả tiền gửi cho công chúng tại các tổ chức này, trong trường hợp các tổ chức này mất khả năng thanh toán hoặc bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấm dứt hoạt động.
- Người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm: là khách hàng của những TCTG BHTG, những người gửi tiền này không phải đóng góp tài chính trực tiếp cho tổ chức BHTG, họ được thanh toán tiền gửi trong hạn mức chỉ trả theo qui định của pháp luật (Lê Văn Út Hiền, 2009). Bản chất Hoạt động BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ BHTG. Dịch vụ BHTG là loại hàng hóa mang tính xã hội cao, theo cách phân loại của các nhà kinh tế học, dịch vụ BHTG thuộc loại hàng hóa công không thuẫn túy. Cơ sở để gọi dịch vụ BHTG là hàng hóa công không thuần túy, căn cứ vào tính không loại trừ thụ hưởng một cách tuyệt đối của dịch vụ này.
Xuất phát từ một trong các mục đích của hoạt động BHTG là góp phần đảm bảo tính ổn định của hệ thống tài chính của quốc gia, người thụ hưởng dịch vụ BHTG là toàn xã hội. Người gửi tiền có tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm sẽ được lợi trực tiếp từ chính sách BHTG qua việc họ được tô chức BHTG chỉ trả tiền bảo hiểm khi tổ chức nhận tiền gửi của họ bị đóng cửa và mất khả năng thanh toán. Người đi vay sẽ được hưởng lợi từ dịch vụ BHTG ở chỗ tính ổn định của hệ thống tài chính giúp cho họ sử dụng tiền vay được an toàn và thuận tiện hơn. Có được hệ thống tài chính ổn định sẽ giúp cho các ngành kinh tế khác phát triển thuận lợi.
Như vậy, việc loại trừ tuyệt đối một cá nhân, hoặc một tô chức trong xã hội ra khỏi sự thụ hưởng lợi ích của dịch vụ BHTG là rất khó khăn và tốn Trang 4 kém. Chính vì đặc tính không loại trừ thụ hưởng tuyệt đối mà dịch vụ BHTG được xếp vào loại hàng hóa công không thuần túy. Mục đích, vai trò của bảo hiểm tiền gửi 1. Mục đích Trong thực tế, mục đích cụ thể của mỗi hệ thống BHTG có khác nhau nhưng nhìn chung là nhằm đạt được 4 mục đích sau: - Bảo vệ người gửi tiền ít, đối tượng có những hạn chế trong tiếp cận thông tin về quản trị, điều hành và tình hình hoạt động của các tổ chức huy động tiền gửi.
- Góp phần đảm bảo cho hệ thống tài chính - ngân hàng hoạt động lành mạnh, ổn định và tạo điều kiện cho các giao dịch tài chính có hiệu quả hơn bằng cách phòng tránh đồ vỡ ngân hàng. - Góp phần xây dựng một thị trường có tính cạnh tranh và bình đẳng cho các tổ chức tài chính có quy mô và trình độ phát triển khác nhau. - Quy định rõ trách nhiệm và quyền của người gửi tiền, tô chức tài chính, Chính phủ và giảm thiểu gánh nặng tài chính cho người đóng thuế trong trường hợp có ngân hàng đồ vỡ (Phùng Văn Hùng, 2009). Vai trò -_ Đối với người gửi tiền Tiền gửi là “của cải” chủ yếu, thuộc sở hữu của số đông dân cư, là lợi ích của những người gửi tiền nhỏ, tầng lớp dân cư có thu nhập thấp.
Mặc dù, tiền gửi tại ngân hàng của những người có thu nhập thấp thường ít hơn số tiền gửi của các đối tượng khác nhưng có thể tiền lãi trên số tiền gửi ít ỏi đó lại là nguồn sống hàng ngày của họ. Vì lo lắng sẽ bị ảnh hưởng khi có đỗ bể ngân hàng và do hạn chế về khả năng có được thông tin chính xác về hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) hoặc không có kha năng phân tích thông tin một cách hiệu quả nên tầng lớp người gửi tiền có thu nhập thấp thường có những “ứng xử quá đỗi” khi có tin đồn thất thiệt về các TCTD. Do đó với sự xuất hiện của hoạt động BHTG sẽ giúp cho Trang 5 những người gửi tiền cảm thấy an tâm hơn khi gửi số tiền mà mình có được vào các TCTD (Phùng Văn Hùng, 2009). Đối với những người gửi tiền lớn hoặc những nhà đầu tư, họ có thể kiểm soát được tình trang cua TCTD ma họ đầu tư vào vì họ có thể tiếp cận với các thông tin về TCTD, do vậy nếu tuân thủ đúng kỷ luật thị trường họ không cần có sự bảo vệ vô hạn đối với khoản tiền gửi của mình.
Như vậy, với số tiền gửi được bảo hiểm là có giới hạn nhất định, hệ thống BHTG có thể khuyến khích các người gửi tiền lớn giám sát chặt chẽ tính lành mạnh của TCTD mà họ gửi tiền vào, từ đó tạo ra động lực buộc các tổ chức nhận tiền gửi phải cải thiện hoạt động và nỗ lực giải quyết khó khăn khi có vấn đề (Nguyễn Mạnh Dũng, 2002). - Đối với ngành ngân hàng Nhìn chung hoạt động của tổ chức BHTG đối với ngành ngân hàng được biểu hiện qua ba tác dụng chính : + Tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng mới ra đời và các ngân hàng có qui mô nhỏ phát triển tốt hơn: khi hoạt động BHTG với chính sách là bất buộc, tất cả các TCTD có nhận tiền gửi đều phải tham gia, từ đó tiền gửi của công chúng được bảo vệ dù gửi bất kỳ nơi đâu không phân biệt qui mô hay thương hiệu của bất kỳ TCTD nào. Vì thế tâm lý lo ngại của người gửi tiền không còn nữa, chính yếu tố này làm cho các ngân hàng mới thành lập và các ngân hàng nhỏ huy động vốn một cách dễ dàng hơn, làm cho hoạt động của hệ thống ngân hàng thuận lợi hơn, hỗ trợ các ngân hàng triển khai nhiều sản phẩm dịch vụ tài chính đáp ứng nhu cầu của xã hội. + Hoạt động của BHTG giúp cho toàn hệ thống ngân hàng hoạt động một cách ổn định: tổ chức BHTG đánh giá kịp thời những khả năng hoạt động của các ngân hàng và nhất là TCTD nhỏ (ở Việt Nam là các quỹ tín đụng nhân dân cơ sở (QTDNDCS)), từ đó giúp cho hệ thống ngân hàng không bị phản ứng dây chuyền một khi xảy ra đỗ vỡ ngân hàng, bằng cách Trang 6 đưa các ngân hàng yếu kém rút khỏi lĩnh vực kinh doanh tiền tệ một cách có trật tự mà không làm ảnh hưởng đến các ngân hàng khác.
Đối với các ngân hàng không thể duy trì được, tô chức BHTG sẽ đưa ra các giải pháp như: chỉ trả tiền gửi được bảo hiểm và tiến hành thanh lý tài sản, sáp nhập với các ngân hàng có tiềm lực mạnh hơn. Đối với trường hợp nếu một ngân hàng bị mắt khả năng thanh toán nhưng chưa đến mức phá sản thì tô chức BHTG sẽ hỗ trợ tài chính (HTTC) nhằm cứu các ngân hàng này vượt qua được giai đoạn khó khăn trong quá trình hoạt động ngân hàng. + Hoạt động BHTG tạo động lực để các ngân hàng giám sát lẫn nhau, thúc đây nhau nâng cao chất lượng hoạt động: tô chức BHTG hoạt động trên cơ sở thúc đây cơ chế hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng các tô chức huy động tiền gửi để giải quyết khó khăn, nhất là trong tình trạng ngân hàng bị mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản. Bằng chính nguồn lực huy động từ các TCTG BHTG sẽ hỗ trợ cho các thành viên.
Ở những quốc gia có hình thức “đóng góp sau”, khi một ngân hàng thành viên bị phá sản thì tổ chức BHTG yêu cầu các thành viên sẽ phải đóng góp một khoản phí theo một tỷ lệ căn cứ vào mức thiệt hại của ngân hàng bị đỗ vỡ. Chính theo hình thức “đóng góp sau” này sẽ làm cho các ngân hàng tự giám sát lẫn nhau nhằm tránh tình trạng ngân hàng hoạt động an toàn phải đóng góp để hỗ trợ những ngân hàng có mức độ rủi ro cao hơn họ (Phùng Văn Hùng, 2009). - Đối với an ninh kinh tế - xã hội Hoạt động ngân hàng luôn chứa đựng rủi ro mà rủi ro trong hệ thống ngân hàng là rủi ro hệ thống, do đó một sự sụp đỗ của bất kỳ một ngân hàng nào cũng có xu hướng lan nhanh toàn hệ thống và gây nên những cuộc khủng hoảng tài chính tôi tệ, ảnh hưởng không chỉ lên nền kinh tế mà còn tạo ra các vấn đề về an ninh - xã hội.