Luận văn thạc sĩ ueh thực trạng và giải pháp hoàn thiện trình bày và công bố báo cáo bộ phận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh thực trạng và giải pháp hoàn thiện trình bày và công bố báo cáo bộ phận của các công ty niêm, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2013

126
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.2. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

1.2.1. Nghiên cứu ngoài nước

1.2.2. Nghiên cứu trong nước

1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.7. KẾT CẤU LUẬN VĂN

2. CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG TRÌNH BÀY VÀ CÔNG BỐ BÁO CÁO BỘ PHẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. GIỚI THIỆU CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

2.1.2. Phân ngành các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

2.2. KHẢO SÁT VIỆC TRÌNH BÀY VÀ CÔNG BỐ BÁO CÁO BỘ PHẬN Ở CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.2.1. Mục tiêu khảo sát

2.2.2. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu

2.2.3. Chất lượng báo cáo bộ phận

2.2.4. Số lượng các bộ phận báo cáo

2.2.5. Phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu

2.2.6. Biến phụ thuộc

2.2.7. Biến độc lập

2.2.8. Kết quả nghiên cứu

2.2.8.1. Thống kê mô tả
2.2.8.2. Kiểm định sự tương quan

2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TRÌNH BÀY VÀ CÔNG BỐ BÁO CÁO BỘ PHẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.3.1. Nhược điểm

2.3.2. Nguyên nhân tồn tại hạn chế

2.3.2.1. Nguyên nhân thuộc về cơ quan ban hành luật
2.3.2.2. Nguyên nhân thuộc về cơ quan quản lý thị trường chứng khoán
2.3.2.3. Nguyên nhân thuộc về những nhà quản lý tại công ty niêm yết
2.3.2.4. Nguyên nhân thuộc về người hành nghề chuyên môn
2.3.2.5. Nguyên nhân thuộc về các cổ đông

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

3. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TRÌNH BÀY BÁO CÁO BỘ PHẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ

3.1.1. Về phía các cơ quan ban hành luật

3.1.2. Về phía những nội dung được điều chỉnh trong chuẩn mực

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG VAS 28

3.2.1. Về phía cơ quan quản lý thị trường chứng khoán

3.2.2. Về phía những nhà quản lý tại công ty niêm yết

3.2.3. Về phía người hành nghề chuyên môn

3.2.4. Về phía các cổ đông

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Mốc thời gian ra đời các chuẩn mực kế toán quốc tế

Phụ lục 2. Danh sách công ty trong mẫu

Phụ lục 3. Bảng mô tả lý do công ty không lập báo cáo bộ phận

Phụ lục 4. Những công ty chỉ công bố một cơ sở chính yếu

Phụ lục 5. Dữ liệu thông tin công bố trong báo cáo bộ phận

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp hoàn thiện báo cáo bộ phận cho công ty niêm yết

Báo cáo bộ phận là một phần quan trọng trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết. Nó cung cấp thông tin chi tiết về hoạt động của từng bộ phận trong công ty, giúp các nhà đầu tư và cổ đông có cái nhìn rõ hơn về tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động. Việc hoàn thiện báo cáo bộ phận không chỉ giúp công ty tuân thủ các quy định pháp lý mà còn nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính.

1.1. Khái niệm và vai trò của báo cáo bộ phận

Báo cáo bộ phận là tài liệu trình bày thông tin tài chính của từng bộ phận trong công ty. Nó giúp các nhà đầu tư hiểu rõ hơn về hiệu quả hoạt động của từng lĩnh vực kinh doanh, từ đó đưa ra quyết định đầu tư chính xác hơn.

1.2. Tầm quan trọng của việc hoàn thiện báo cáo bộ phận

Việc hoàn thiện báo cáo bộ phận giúp công ty niêm yết tại TP.HCM nâng cao tính minh bạch, từ đó tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Điều này cũng giúp công ty tuân thủ các quy định của pháp luật và chuẩn mực kế toán.

II. Vấn đề và thách thức trong việc công bố báo cáo bộ phận

Mặc dù báo cáo bộ phận có vai trò quan trọng, nhưng nhiều công ty niêm yết vẫn gặp khó khăn trong việc công bố thông tin này. Các vấn đề như thiếu minh bạch, không đầy đủ thông tin và sự không đồng nhất trong cách trình bày là những thách thức lớn.

2.1. Thiếu minh bạch trong báo cáo bộ phận

Nhiều công ty không cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết trong báo cáo bộ phận, dẫn đến việc nhà đầu tư khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận.

2.2. Không đồng nhất trong cách trình bày

Sự không đồng nhất trong cách trình bày báo cáo bộ phận giữa các công ty niêm yết gây khó khăn cho nhà đầu tư trong việc so sánh và phân tích thông tin.

III. Phương pháp hoàn thiện báo cáo bộ phận cho công ty niêm yết

Để hoàn thiện báo cáo bộ phận, các công ty niêm yết cần áp dụng một số phương pháp cụ thể. Những phương pháp này không chỉ giúp cải thiện chất lượng báo cáo mà còn nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính.

3.1. Cải tiến quy trình thu thập dữ liệu

Công ty cần xây dựng quy trình thu thập dữ liệu hiệu quả, đảm bảo thông tin được cập nhật đầy đủ và chính xác cho từng bộ phận.

3.2. Đào tạo nhân viên về chuẩn mực báo cáo

Đào tạo nhân viên về các chuẩn mực báo cáo bộ phận sẽ giúp họ hiểu rõ hơn về yêu cầu và cách thức trình bày thông tin, từ đó nâng cao chất lượng báo cáo.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về báo cáo bộ phận

Nghiên cứu thực tiễn cho thấy rằng việc hoàn thiện báo cáo bộ phận đã mang lại nhiều lợi ích cho các công ty niêm yết. Các công ty này không chỉ tuân thủ tốt hơn các quy định mà còn cải thiện được mối quan hệ với nhà đầu tư.

4.1. Lợi ích từ việc hoàn thiện báo cáo bộ phận

Việc hoàn thiện báo cáo bộ phận giúp công ty nâng cao tính minh bạch, từ đó thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn và cải thiện giá trị cổ phiếu.

4.2. Kết quả nghiên cứu từ các công ty niêm yết

Nghiên cứu cho thấy rằng các công ty niêm yết có báo cáo bộ phận hoàn thiện thường có hiệu suất tài chính tốt hơn so với những công ty không chú trọng đến vấn đề này.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho báo cáo bộ phận

Việc hoàn thiện báo cáo bộ phận là một quá trình liên tục và cần sự nỗ lực từ cả công ty và các cơ quan quản lý. Trong tương lai, cần có những cải cách để nâng cao chất lượng báo cáo bộ phận, từ đó tạo ra một môi trường đầu tư minh bạch và hiệu quả hơn.

5.1. Đề xuất cải cách trong quy định báo cáo

Cần có những cải cách trong quy định về báo cáo bộ phận để đảm bảo tính minh bạch và đồng nhất trong cách trình bày thông tin.

5.2. Tương lai của báo cáo bộ phận tại TP.HCM

Với sự phát triển của thị trường chứng khoán, báo cáo bộ phận sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn, đòi hỏi các công ty niêm yết phải chú trọng hơn đến chất lượng thông tin.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh thực trạng và giải pháp hoàn thiện trình bày và công bố báo cáo bộ phận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN BÁO CÁO BỘ PHẬN THEO QUY ĐỊNH CỦA CHUẨN MỰC KẾ TOÁN 1. BÁO CÁO BỘ PHẬN THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ 1. Khái niệm báo cáo bộ phận Theo Ijiri (1995, [21]), “Báo cáo bộ phận có thể được định nghĩa là các số liệu tài chính riêng của các đơn vị, công ty con, hoặc những bộ phận khác nhau của một công ty”. Người sử dụng báo cáo tài chính, cộng đồng chuyên gia phân tích và các nhà nghiên cứu được hỗ trợ các thông tin bổ sung về chia tách các bộ phận thông qua việc tìm hiểu báo cáo bộ phận.

Tất cả các công ty niêm yết phải công bố lợi nhuận và chi phí bộ phận với những dữ liệu và thông tin có liên quan, chẳng hạn như doanh thu bên ngoài và nội bộ, tài liệu về các khoản mục không dùng tiền mặt, thu nhập và chi phí… Bên cạnh đó, công ty này cũng được yêu cầu phải cung cấp cho người dùng để hiểu sự khác biệt giữa thông tin hợp nhất và các thông tin được cung cấp dưới báo cáo bộ phận. Theo những nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP), “Báo cáo bộ phận là báo cáo của các bộ phận hoạt động ở một công ty trong việc trình bày kèm theo báo cáo tài chính của nó”. Báo cáo bộ phận cần thiết cho các công ty đại chúng và không cần thiết cho những công ty tư nhân. Báo cáo bộ phận được thiết kế để cung cấp thông tin cho những nhà đầu tư và chủ nợ mà có liên quan đến các kết quả tài chính của công ty.

Qua thông tin về báo cáo bộ phận, họ có thể sử dụng làm cơ sở cho các quyết định liên quan đến công ty. Một bộ phận tham gia vào các hoạt động kinh doanh của công ty mà từ đó bộ phận này có thể kiếm thu nhập và phải chịu chi phí phát sinh, có thông tin tài chính riêng biệt sẵn có, đồng thời kết quả thường xuyên được xem xét bởi giám đốc điều hành của tổ chức thông qua việc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 đánh giá hoạt động và phân bổ nguồn lực thì cần thực hiện theo các quy tắc để xác định các thông tin cần phải được báo cáo. Như vậy, các khái niệm báo cáo bộ phận nhìn chung cho thấy báo cáo này được trình bày nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin được đưa ra, làm cơ sở hỗ trợ thêm cho việc xem xét và đưa ra quyết định của những người sử dụng báo cáo tài chính của doanh nghiệp bên cạnh việc xem xét các số liệu kinh tế tài chính tổng quát. Những khái niệm trên hầu hết đều hướng đến việc xem xét báo cáo bộ phận dựa theo mục đích mà báo cáo này hướng đến, riêng quan điểm của mình, tác giả cho rằng báo cáo bộ phận là báo cáo trình bày chi tiết về những thông tin kinh tế tài chính cần thiết, mang tính trọng yếu, ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính mà đã được công bố số liệu tổng quát trước đó.

Lịch sử ra đời các chuẩn mực kế toán quốc tế về báo cáo bộ phận Trong phần này, tác giả sẽ tổng hợp theo một trình tự thời gian những sự kiện quan trọng được xem xét trong quá trình phát triển của báo cáo bộ phận. Để rõ ràng hơn, những sự kiện được theo dõi trên cả lãnh thổ Mỹ (FASB) và những sự kiện được thực thi bởi IASB, sau đó tác giả tóm gọn lại mốc thời điểm chính yếu ở mỗi tổ chức (phụ lục 1) mà trên đó các sự kiện liên quan đến việc xác định thông tin bộ phận được hiển thị. Theo Skousen (1970, [28]) lịch sử của báo cáo bộ phận quay ngược lại tháng 9 năm 1964. Đây là thời điểm Tiểu ban chống độc quyền và độc quyền của Ủy ban Thượng viện Hoa Kỳ bắt đầu buổi điều trần về tư pháp liên quan đến tập trung kinh tế trong ngành công nghiệp Mỹ.

Trong suốt năm này, các cuộc họp đã diễn ra giữa SEC và đại diện các nhà phân tích tài chính và kế toán trong các ngành công nghiệp Mỹ. Vào cuối năm 1966, một dự án mang tên FEI "Báo cáo tài chính của những công ty đa dạng" đã được thiết lập. Tháng 12 năm 1974 IASC ban hành E3, một bản dự thảo tiếp xúc của chuẩn mực về báo cáo tài chính hợp nhất, trong đó ngụ ý rằng các báo cáo tài chính của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 các công ty con khác nhau nên được trình bày kèm theo trong báo cáo tài chính hợp nhất. Tuy nhiên, E3 dù được bắt buộc bởi IASC nhưng lại chứa đựng những yêu cầu phân chia bộ phận được diễn đạt khá lỏng lẻo.

Năm 1976 SFAS 14: “Báo cáo tài chính cho các bộ phận của doanh nghiệp kinh doanh”. Đây thực sự là chuẩn mực kế toán đầu tiên liên quan đến báo cáo về thông tin bộ phận, đã được ban hành sau những kêu gọi của các tổ chức đại diện cho người sử dụng báo cáo tài chính như Liên đoàn chuyên viên phân tích tài chính, nhóm nghiên cứu kế toán quốc tế, Hội đồng chứng khoán New York. Chuẩn mực này đòi hỏi công bố thông tin ở cả hai bộ phận là theo lĩnh vực kinh doanh và phạm vi địa lý. Tháng 03 năm 1980 IASC ban hành ED E15 "Báo cáo thông tin tài chính bởi bộ phận" ra đời, dự thảo này đã được dựa trên SFAS số 14 của Mỹ, theo phương pháp tiếp cận rủi ro và lợi ích có được, có nghĩa là việc đưa ra quyết định dựa trên cơ sở chính là sự phân chia, khi đó sự lựa chọn theo cách phân chia dựa trên các sản phẩm, dịch vụ liên quan hoặc khu vực địa lý sẽ xác định hầu hết các rủi ro và lợi ích của công ty.

Tháng 8 năm 1981, một số thư từ góp ý nhận được về việc ban hành ED E15-được gọi là một điều khoản trong chuẩn mực cho phép các công ty không tuân theo chuẩn mực này, vì với việc phải tiết lộ những thông tin như vậy có thể gây thiệt hại với các công ty tiết lộ thông tin. IASC đã bác bỏ những yêu cầu này và quyết định ban hành chuẩn mực mới IAS 14 mà không có thay đổi lớn từ E15. Năm 1992 Văn bản định vị của AIMR ra đời liệt kê những thiếu sót lặp đi lặp lại trong các báo cáo bộ phận hiện nay ở hầu hết các báo cáo tài chính được công bố ở Mỹ. Năm 1994 AICPA tổ chức một ủy ban đặc biệt về báo cáo tài chính.

Ủy ban này đã được thành lập như một câu trả lời cho văn bản định vị năm 1992 của AIMR nhằm để điều tra nhu cầu thông tin của các nhà đầu tư và các chủ nợ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Tháng 12 năm 1995 IASC đã công bố dự thảo tiếp xúc E51 “Báo cáo thông tin tài chính bởi bộ phận” mà qua đã cho thấy có sự thay đổi trong cách xác định bộ phận được công bố. Dự thảo này cho thấy những thay đổi đáng kể về việc công bố thông tin tài chính của các sản phẩm và dịch vụ mà công ty cung cấp, cũng như thông tin về các hoạt động trên toàn thế giới của họ. Năm 1996 SFAS 14 ra đời.

Đây là lần đầu tiên có sự hợp tác giữa FASB và AcSB, “Báo cáo thông tin phân tách của các doanh nghiệp” được phát hành. Năm 1997 FASB thay thế SFAS 14 thành SFAS số 131 “Công bố về các bộ phận của một doanh nghiệp và thông tin liên quan” vì thông qua một nghiên cứu được thực hiện, FASB phát hiện thấy nhiều công ty đã không công bố thông tin bộ phận được mong đợi. Họ lạm dụng sự không rõ ràng trong các định nghĩa trong SFAS 14 để báo cáo mình là một công ty chỉ có một bộ phận duy nhất. Tháng 8 năm 1997 IASC sửa đổi IAS 14 thành IAS 14R.

IAS 14 “Báo cáo bộ phận” thường bị các chỉ trích về ngôn ngữ mềm mại và yêu cầu quá chung chung. Nó cho phép quá nhiều giải thích khác nhau cũng như không cung cấp đầy đủ hướng dẫn và định nghĩa chi tiết, đồng thời không yêu cầu tiết lộ dữ liệu mô tả về các bộ phận. Do đó IASB đã quyết định sửa đổi chuẩn mực này đối với một số vấn đề gồm quy định ngưỡng định lượng rõ ràng để xác định các phần được báo cáo, thay đổi định nghĩa rộng thành các định nghĩa rõ ràng về tất cả các thuyết minh và cung cấp những hướng dẫn cụ thể hơn. Ngày 01 tháng 07 năm 1998 là ngày hiệu lực của IAS 14R.

Vào tháng 09 năm 2002, FASB và IASB đã thực hiện một thỏa thuận để loại bỏ nhiều sự khác biệt giữa US GAAP và IFRS. Năm 2005 dự án hội tụ giữa IFRS và US GAAP diễn ra. Việc gia tăng mạnh trong dự án hội tụ đã xảy ra bởi vì Nghị viện châu Âu bỏ phiếu vào năm 2002 chấp thuận một quy định yêu cầu tất cả các công ty EU niêm yết phải chuẩn bị báo cáo hợp nhất theo quy định của IAS bằng cách mới nhất trong năm 2005. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Ngày 19 tháng 01 năm 2006 IASB ban hành Dự thảo tiếp xúc số 8 “Bộ phận hoạt động”.

Theo đề nghị của IFRS, nó sẽ thay thế cho IAS 14R hiện có. Sự khác biệt lớn giữa dự thảo này và IAS 14R là sự thay thế phương pháp tiếp cận rủi ro và lợi ích bằng cách tiếp cận theo phương pháp quản lý. Cho dù nó được sử dụng bởi những nhà quản lý trong việc ra quyết định, chuẩn mực cũng đòi hỏi đơn vị phải báo cáo thông tin về doanh thu có được từ các sản phẩm dịch vụ của mình, các quốc gia mà nó kiếm được doanh thu, tài sản đang nắm giữ và những khách hàng lớn. Ngày 30 tháng 11 năm 2006 ra đời IFRS 8 “Bộ phận hoạt động”.

Trong ED 8, IASB đã đề nghị mở rộng phạm vi của IFRS cho tất cả các đơn vị có trách nhiệm công khai (hiểu là công ty có phát hành cổ phiếu) và không chỉ các đơn vị có chứng khoán được giao dịch công khai. Ngày 01 tháng 01 năm 2009 là ngày có hiệu lực IFRS 8 1. Lợi ích và chỉ trích xung quanh báo cáo bộ phận Các tổ chức với tính chất đa dạng trong lĩnh vực kinh doanh và địa bàn hoạt động sẽ phải gánh chịu mức độ khác biệt về của rủi ro và lợi ích.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ