Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 1. Cơ sở lý luận về việc làm và giải quyết việc làm 1. Cơ sở lý luận về việc làm 1. Khái niệm việc làm Dưới góc độ kinh tế xã hội, việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho người lao động được xã hội thừa nhận.
Dưới góc độ pháp lý, trong bộ Luật Lao động năm 2012, “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm.” Nghĩa là, việc làm bao gồm 3 yếu tố (Luật lao động, 2012): - Là hoạt động lao động: hoạt động này nói lên sự tác động của sức lao động đến tư liệu sản xuất từ đó tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Yếu tố lao động có các tính chất: thường xuyên, hệ thống và tính nghề nghiệp. - Là hoạt động tạo ra thu nhập: thông qua việc làm, người lao động có khả năng tạo ra thu nhập cho mình và cho gia đình. - Là hoạt động hợp pháp: hoạt động lao động phải được pháp luật công nhận thì mới được coi là việc làm.
Tính pháp lý của việc làm sẽ tùy theo từng nước, các nước khác nhau sẽ có điều kiện kinh tế, xã hội, quan niệm đạo đức khác nhau nên sự quy định trong xác định tính hợp pháp của hoạt động lao động cũng khác nhau. Phân loại việc làm * Theo mức độ sử dụng lao động: Có thể phân thành 4 mức độ: + Việc làm chính: là công việc chiếm nhiều thời gian nhất và cho thu nhập nhiều nhất. + Việc làm phụ: là những công việc tốn ít thời gian hơn so với công việc chính. + Việc làm hợp lý: là những việc hợp pháp và phù hợp với khả năng, sở Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 trường của người lao động.
+ Việc làm hiệu quả: Người lao động khi làm những công việc này sẽ cho năng suất và chất lượng cao nhất. * Theo thời gian làm việc của người lao động. Có thể phân làm 3 mức: + Việc làm tạm thời: là những việc mà người lao động làm khi họ đang tìm công việc khác phù hợp với năng lực của mình. + Việc làm đầy đủ: là khi việc làm được thỏa mãn về thời gian lao động, mức năng suất và thu nhập.
Nghĩa là, khi người lao động có việc làm đầy đủ, họ sẽ làm việc theo chế độ luật định và không có nhu cầu làm thêm. + Thiếu việc làm: là trạng thái có việc làm nhưng làm việc không hết thời gian hoặc phải làm công việc lương thấp nên họ muốn làm thêm công việc khác, có thể do các nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn. Thiếu việc làm có thể được biểu hiện dưới 2 dạng: (i) Thiếu việc làm hữu hình: Khi người lao động làm việc không đủ thời gian do không đủ việc làm và họ phải tìm việc bổ sung. Thiếu việc làm hữu hình sử dụng thước đo: K1= (Số giờ làm việc thực tế/ Số giờ quy định) * 100% (ii) Thiếu việc làm vô hình: Khi người lao động đủ việc làm, đủ thời gian nhưng lương thấp và muốn tìm việc bổ sung, kiếm thêm thu nhập [12, 2018].
Thước đo của thiếu việc làm vô hình: K1= (Thu nhập thực tế/Mức lương tối thiểu hiện hành) * 100% 1. Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm 1. Khái niệm giải quyết việc làm Theo khái niệm về việc làm nêu ở phần trên, việc làm chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó. Rõ ràng tạo việc làm cho người lao động hoặc tạo nhiều việc làm luôn gắn với quá trình phát triển kinh tế xã hội, phát huy sức mạnh tiềm năng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 của con người, phát huy trí tuệ người lao động để tạo ra nhiều của cải cho xã hội.
Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nêu rõ: “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”. Tuỳ thuộc vào các cách thức tiếp cận và mục đích nghiên cứu mà người ta đưa ra các khái niệm giải quyết việc làm khác nhau. Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra các vị trí việc làm cho người lao động để người lao động có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của bản thân, gia đình, của người sử dụng lao động và đáp ứng mục tiêu phát triển của xã hội. Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm vừa là nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước vừa là trách nhiệm của người sử dụng lao động và chính bản thân người lao động.
Nội dung cơ bản của giải quyết việc làm Quy mô, cơ cấu của dân số sẽ ảnh hưởng đến số lượng người lao động. Trong khi đó đào tạo, sự phát triển của ý tế, giáo dục sẽ ảnh hưởng đến chất lượng người lao động. Ngoài ra, sự kết hợp giữa các yếu tố này còn phụ thuộc vào môi trường như: các chính sách, sự khuyến khích người lao động. Khi người lao động và người sử dụng lao động gặp nhau và nhất trí về việc sử dụng sức lao động thì mới hình thành thị trường lao động.
Vì vậy, muốn giải quyết việc làm thì vai trò phải ở cả phí người lao động và người sử dụng lao động và đặc biệt cần có vai trò của nhà nước. Điều đó tạo nên cơ chế 3 bên của giải quyết việc làm. Người lao động muốn tìm việc làm phù hợp với khả năng và có thu nhập thì phải lên kế hoạch thực hiện và phát triển sức lao động của bản thân hoặc từ các nguồn tài trợ khác để tham gia học tập, phát triển một nghề nhất định để tham gia lao động. Nhà nước cần tạo hành lang pháp lý, tạo điều kiện cho người lao động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 và người sử dụng lao động thông qua luật lệ, chính sách hợp lý để người lao động kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất như các chính sách về thuế, vay vốn, giảm thuế cho các doanh nghiệp ngoài nhà nước sử dụng lao động người Việt Nam, chính sách ưu đãi với người dân tộc thiểu số.
Người sử dụng lao động cần thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra từ đó tạo thêm công việc cho người lao động. Thông tin sẽ quyết định sự phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, người sử dụng lao động sẽ cần có vốn, nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, khoa học kỹ thuật và sức lao động để đi vào sản xuất. Ngoài ra, người sử dụng lao động cũng phải có kinh nghiệm về quản lý và biết vận dụng các chủ trương, chính sách của nhà nước vào quá trình sản xuất, kinh doanh của mình.
Vai trò của giải quyết việc làm Đối với tất cả các nước trên thế giới, vấn đề việc làm đang ngày càng gây bức xúc. Không nằm ngoài ảnh hưởng, sức ép về thiếu việc làm ở Việt Nam cũng đang ngày càng gia tăng. Chính vì thế, một trọng những mục tiêu quan trọng của nước ta là vấn đề giải quyết việc làm. Giải quyết việc làm nhằm đến đối tượng là con người mà cụ thể hơn chính là người lao động.
Để hiểu rõ hơn vai trò của giải quyết việc làm, ta cần phải hiểu về tầm quan trọng của con người. Mac đã từng nói: “ Con người là lực lượng sản xuất cơ bản nhất của xã hội.” Có thể nói, con người chính là trung tâm, là mục tiêu và động lực cho sự phát triển. Con người quyết định sự phát triển của khoa học kỹ thuật vì con người có sức lao động, có khả năng và năng lực trọng việc sử dụng sức lao động. Ta sẽ nghiên cứu 2 khía cạnh: Một là, để tạo ra của cải vật chất thì con người phải trải qua quá trình lao động thông qua việc kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất hay còn gọi là có việc làm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Hai là, con người cũng là chủ thể trong việc sử dụng của cải vật chất thông qua việc phân phối và tái phân phối. Thu nhập từ việc làm sẽ được sử dụng để tiêu dùng và tái sản xuất sức lao động. Nói tóm lại, trong nền kinh tế, việc làm có vai trò vô cùng quan trọng, tạo động lực cho phát triển đời sống, kinh tế, xã hội. Như vậy, vai trò của giải quyết việc làm càng quan trọng hơn vì: - Giải quyết việc làm sẽ giúp tăng thu nhập từ đó nâng cao chất lượng đời sống cho người lao động.
- Khi được giải quyết việc làm, người lao động sẽ được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, trong đó có quyền được làm việc để nuôi sống bản thân và gia đình. Cơ sở lý luận về thanh niên và hỗ trợ giải quyết việc làm cho thanh niên 1. Khái niệm thanh niên Thanh niên là một khái niệm được sử dụng nhiều trong cuộc sống hàng ngày với nhiều cách hiểu khác nhau. Từ góc độ xã hội học, thanh niên được nhìn nhận là một giai đoạn xã hội – thời kỳ kết thúc của tuổi thơ phụ thuộc chuyển sang xác lập vai trò các nhân qua các hoạt động độc lập với tư cách đầy đủ của một công dân, là một chủ thể của các quan hệ xã hội.
Các nhà tâm lý học thì nhìn nhận thanh niên gắn với các đặc điểm tâm lý lứa tuổi và coi đó là yếu tố cơ bản để phân biệt với các lứa tuổi khác. Các nhà kinh tế học nhấn mạnh thanh niên với góc độ là một lực lượng xã hội hùng hậu, là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ những người lao động trên các lĩnh vực sản xuất,. Về mặt xã hội, thanh niên là một bộ phận đông đảo dân cư, “những người trong độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi” (Luật Thanh Niên số 53/2005/QH11, 2005). Thanh niên là một bộ phận của tất cả các giai cấp, các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo,.