phần mở đầu về các nhân tố tác động đến rủi ro bảo lãnh nói chung và BLTT nói riêng, tác giả nêu ra các nhân tố tác động đến rủi ro trong hoạt động BLTT tại các ngân hàng như sau: 1.1 Nhân tố khách quan Khả năng thanh toán của doanh nghiệp được bảo lãnh Đây là nhân tố tác động mạnh mẽ làm gia tăng rủi ro trong hoạt động BLTT của các ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Tình hình tài chính của bản thân doanh nghiệp được bảo lãnh là nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp đó trong một hợp đồng bảo lãnh. Một doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh với các chỉ số kinh doanh đạt mức tốt, hoạt động kinh doanh hiệu quả trên thị trường thông thường sẽ chủ động thực hiện hợp đồng đúng theo các điều kiện đã cam kết và ít khi để xảy ra trường hợp ngân hàng phải bồi thường bảo lãnh. Đối với các doanh nghiệp có kinh nghiệm và năng lực kinh doanh đang còn ở trình độ thấp thông thường không nắm bắt được thông tin kịp thời, thiếu thích nghi với sự cạnh tranh trên thị trường, uy tín LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 thanh toán chưa cao, dễ xảy ra rủi ro không thanh toán hoặc thanh toán không đúng hạn theo các điều khoản trong hợp đồng đã đề ra.
Uy tín, sự trung thực của bản thân khách hàng được bảo lãnh Nhân tố không lành mạnh từ phía khách hàng là việc khách hàng lừa đảo, trốn tránh trách nhiệm trong hợp đồng cơ sở của hoạt động bảo lãnh. Khách hàng cố tình lợi dụng các điểm yếu và kẽ hở của ngân hàng, lập các phương án kinh doanh giả, cùng các giấy tờ giả mạo, lừa đảo đối tác kinh doanh và yêu cầu ngân hàng phát hành chứng thư bảo lãnh hòng chiếm đoạt tài sản của ngân hàng. Bên cạnh sự tiến bộ của khoa học công nghệ là sự gia tăng tình hình tội phạm trong xã hội, mức độ lừa đảo ngày càng tinh vi và khó kiểm soát hơn. Điều này tạo ra các rủi ro gian lận, lừa đảo trong hoạt động BLTT nói riêng và cả hoạt động tín dụng của các ngân hàng nói chung, gây hậu quả không nhỏ đến các bên và đến cả nền kinh tế.
Sự trung thực của người thụ hưởng Đây là nhân tố tác động không nhỏ, gia tăng rủi ro về gian lận lừa đảo trong các giao dịch BLTT. Cũng giống như sự trung thực từ người được bảo lãnh, ngân hàng cũng cần xem xét đến sự trung thực của người thụ hưởng. Có nhiều trường hợp, người thụ hưởng tạo ra các chứng từ không có thực hoặc cố tình tạo ra các sai phạm vô lý của người được bảo lãnh nhằm yêu cầu ngân hàng phải thanh toán thay. Hoặc trường hợp người thụ hưởng cấu kết với khách hàng tạo ra các giao dịch mua bán vô thực, sau đó làm giấy tờ giả về việc vi phạm của bên được bảo lãnh để trục lợi ngân hàng.
Môi trường kinh tế - xã hội, pháp lý, và yếu tố tự nhiên Các nhân tố từ môi trường kinh tế - xã hội, pháp lý và các yếu tố tự nhiên cũng ảnh hưởng đến rủi ro trong hoạt động BLTT tại các ngân hàng. Vấn đề về chính sách vĩ mô của Chính phủ đóng vai trò quyết định đối với hoạt động của nền kinh tế. Khi môi trường kinh tế ổn định sẽ tác động tích cực đến các chủ thể trong nền kinh tế, từ đó thúc đẩy giao dịch của các bên được thuận lợi. Trường hợp các chính sách của Chính phủ thay đổi, môi trường kinh tế kém ổn định, lãi suất và các chi phí khác tăng lên, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 của doanh nghiệp, làm tăng rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
Yếu tố chính trị - xã hội cũng là nhân tố khách quan tác động gián tiếp đến rủi ro trong hoạt động BLTT. Tình hình chính trị bất ổn, làm xáo trộn mọi hoạt động xã hội, làm hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp, làm gia tăng rủi ro tín dụng trong các giao dịch tín dụng và bảo lãnh. Bên cạnh đó, môi trường pháp lý cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới vấn đề rủi ro trong hoạt động BLTT. Một hành lang pháp lý đồng bộ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng trong hoạt động bảo lãnh và giúp tránh được những rủi ro không đáng có.
Hệ thống pháp luật không phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế, các văn bản luật, văn bản dưới luật và các quy trình quy chế bị chồng chéo, mâu thuẩn nhau gây khó khăn trong việc thực thi của các doanh nghiệp và ngân hàng, dễ ảnh hưởng đến chất lượng của nghiệp vụ bảo lãnh. Ngoài những yếu tố trên, các yếu tố tự nhiên như thiên tai, dịch bệnh, bão lũ… là những yếu khách quan bất khả kháng, không thể lường trước được. Nhân tố này ảnh hưởng không đáng kể đến rủi ro trong hoạt động tín dụng, bảo lãnh nhưng đến khi xảy ra thì hậu quả cũng có thể rất nghiêm trọng. Nói tóm lại, các nhân tố về môi trường kinh tế - xã hội, pháp lý và yếu tố tự nhiên không thuận lợi sẽ làm giảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp được bảo lãnh, gia tăng rủi ro tín dụng trong hoạt động BLTT tại các ngân hàng.2 Nhân tố chủ quan Quy mô và uy tín của ngân hàng phát hành bảo lãnh thanh toán Bên thụ hưởng bảo lãnh rất chú trọng đến ngân hàng bảo lãnh về các đặc điểm như uy tín, tiềm lực tài chính, thẩm quyền của người ký phát hành thư bảo lãnh.
Các chứng thư BLTT được cấp phát bởi những ngân hàng có quy môn vốn lớn, có uy tín cao và tiềm lực tài chính mạnh sẽ tạo một sự an tâm chắc chắn cho các doanh nghiệp được bảo lãnh và người thụ hưởng. Nhân tố này ảnh hưởng đến rủi ro về quản trị hệ thống trong một giao dịch bảo lãnh, quy mô và uy tín của ngân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 hàng càng cao, ngân hàng sẽ chú trọng xây dựng các hệ thống quản trị tốt, làm giảm thiểu rủi ro xảy ra trong các hoạt động của mình. Trình độ và năng lực cán bộ tín dụng Thẩm định là bước đầu tiên nhất quyết định có cấp tín dụng hay phát hành bảo lãnh cho một khách hàng nào đó hay không. Do sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng gây ra trong quá trình thu hút khách hàng làm cho việc thẩm định khách hàng ở nhiều ngân hàng trở nên sơ sài, chủ quan.
Thậm chí có nhiều ngân hàng liều lĩnh chấp nhận rủi ro cao, nhằm đạt được mức lợi nhuận cao mà bất chấp những hợp đồng bảo lãnh không lành mạnh, thiếu an toàn. Bên cạnh đó, công tác kiểm soát sau của cán bộ ngân hàng cũng đóng góp vai trò to lớn trong việc hạn chế rủi ro cho các ngân hàng trong các hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động BLTT nói riêng. Hiện nay tại một số ngân hàng, bản thân các cán bộ ngân hàng xem nhẹ việc kiểm soát sau khi cấp tín dụng, chỉ thực hiện sơ sài hoặc không thực hiện, nhiều trường hợp dẫn đến những hậu quả nghiêm trong trong nhiều năm trở lại đây. Có thể thấy trình độ và năng lực của cán bộ tín dụng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro trong hoạt động BLTT, vì nếu một người cán bộ yếu kém về năng lực, khi tiếp nhận hồ sơ của khách hàng thì khả năng phân tích và thẩm định dự án không đúng về dự án, làm giảm chất lượng công tác thẩm định.
Trong trường hợp này nhân viên tín dụng có thể bị khách hàng lừa gạt, hoặc lựa chọn dự án tài trợ không chính xác, khả năng mất vốn là rất cao. Ngoài ra, năng lực cán bộ tín dụng yếu kém không thực hiện đúng các công tác kiểm soát sau định kỳ, làm gia tăng rủi ro cho hoạt động BLTT của các NHTM. Có thể thấy chất lượng đội ngũ cán bộ là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thành công của ngân hàng. Một đội ngũ nhân viên có tư cách đạo đức tốt và khả năng chuyên môn cao sẽ góp phần làm giảm thiểu rủi ro, tăng hiệu quả và chất lượng của các giao dịch BLTT.5 Các tiêu chí đánh giá rủi ro trong hoạt động bảo lãnh thanh toán của các ngân hàng thương mại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Tỷ lệ trích dự phòng của các khoản nợ tiềm ẩn ngoại bảng Nợ tiềm ẩn ngoại bảng của một NHTM bao gồm các cam kết bảo lãnh, cam kết L/C và cam kết khác.
Các khoản cam kết này cũng mang đến rủi ro cho ngân hàng do đó cũng được quy định phải trích lập dự phòng rủi ro. Theo đó, các khoản cam kết ngoại bảng được phân loại theo các mức độ rủi ro gồm: nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn và trích dự phòng rủi ro theo từng mức độ. Tùy vào mức độ rủi ro của từng loại cam kết mà tỷ lệ trích lập dự phòng có thể khác nhau. ậ ự Tỷ lệ trích lập dự phòng = x 100% Ngân hàng nào có tỷ lệ trích lập dự phòng của các khoản nợ tiềm ẩn ngoại bảng cao, nghĩa là rủi ro của các khoản nợ tiềm ẩn ngoại bảng bao gồm L/C và các cam kết bảo lãnh cao.
Các NHTM cần phải giữ tỷ lệ này ở một mức độ được cho phép để đảm bảo hoạt động của cả hệ thống đạt hiệu quả. Tuy nhiên, số dư trích lập dự phòng rủi ro của các khoản nợ tiềm ẩn ngoại bảng trên bảng cân đối của các ngân hàng không chỉ bao gồm BLTT mà còn các loại bảo lãnh khác, cam kết L/C và cam kết khác. Do đó, tiêu chí này chưa đánh giá chính xác mức độ rủi ro trong hoạt động BLTT của các ngân hàng.2 Tỷ lệ Dư nợ bảo lãnh/dư bảo lãnh Khi NHTM thực hiện hoạt động phát hành BLTT hoặc các bảo lãnh tài chính khác, bản chất là một khoản bảo đảm cho bên được bảo lãnh thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong hợp đồng kinh tế. Tuy nhiên, không phải lúc nào bên được bảo lãnh cũng thực hiện đúng và đủ nghĩa vụ của mình.