Chương 1 : Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng và quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao công tác Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƢƠNG I: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Giới thiệu khách hàng doanh nghiệp 1.1 Khái niệm Theo định nghĩa của luật doanh nghiệp ban hành ngày 29/11/2005 của Việt Nam, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có con dấu, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhất định nhằm mục đích kiếm lợi nhuận. Hầu hết các doanh nghiệp đều có một đặc điểm chung là đều sử dụng đòn bẩy tài chính nhằm mục đích đáp ứng được nhu cầu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Các doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng nhiều cách khác nhau như vay các định chế tài chính, phát hành cổ phiếu, trái phiếu…. Tuy nhiên ở Việt Nam thì hình thức phổ biến nhất vẫn là đi vay các định chế tài chính, vì hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu chỉ dành cho những doanh nghiệp đáp ứng đủ những tiêu chuẩn đặt ra.2 Phân loại doanh nghiệp 1.1 Căn cứ theo hình thức sở hữu doanh nghiệp Căn cứ vào hình thức sở hữu doanh nghiệp chúng ta có thể phân chia doanh nghiệp thuộc các nhóm sau đây: - Doanh nghiệp Nhà nước: Là doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.
- Doanh có vốn đầu tư nước ngoài: Là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Doanh nghiệp khác: Bao gồm các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.2 Căn cứ theo quy mô của doanh nghiệp - Doanh nghiệp lớn. Căn cứ để phân loại doanh nghiệp lớn thỏa mãn một trong hai điều kiện là vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp trên 10 tỷ đồng hoặc doanh nghiệp có số lao động trên 300 công nhân. - Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Là những doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp lớn.3 Đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp - Khách hàng doanh nghiệp thường hoạt động với quy mô lớn, cho nên thường đa số các doanh nghiệp hoạt động dựa trên vốn vay ngân hàng là chủ yếu. Hầu hết các doanh nghiệp khi có quan hệ với ngân hàng đều mong muốn được vay tối đa mà ngân hàng thẩm định cho họ vay, số tiền vay của các doanh nghiệp thường rất lớn và lớn hơn rất nhiều lần so với khách hàng cá nhân đi vay, chính vì vậy rủi ro tín dụng tiềm ẩn đối với khách hàng doanh nghiệp là rất lớn. - Nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp là rất lớn, nhưng thường thì tài sản đảm bảo của doanh nghiệp lại không đủ để đảm bảo cho khoản vay. Đây là bài toán khó cho Ngân hàng, vừa muốn đáp ứng được nhu cầu vay của khách hàng lại vừa muốn đảm bảo cho đồng vốn của Ngân hàng.
Do vậy trong trường hợp này tùy thuộc vào Ngân hàng thẩm định doanh nghiệp để áp dụng các chính sách hợp lý cho doanh nghiệp vay vốn, thường thì nếu doanh nghiệp tốt, làm ăn hiệu quả, có uy tín trong quan hệ tín dụng với ngân hàng, đối với nhóm khách hàng này ngân hàng sẽ áp dụng các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp như cho vay tín chấp một phần hoặc nhận tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay, cầm cố lô hàng… - Nhu cầu vay vốn của khách hàng doanh nghiệp thường đa dạng như vay vốn tài trợ vốn lưu động, vay vốn đầu tư dự án, vay vốn mua sắm tài sản cố định… Một doanh nghiệp có thể vay tại một hay nhiều ngân hàng, tuy nhiên để được ngân hàng áp dụng các chính sách ưu đãi thì doanh nghiệp thường tập trung về một ngân hàng có chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 sách cấp tín dụng tốt nhất. - Các doanh nghiệp thường gắn bó với các ngân hàng trong thời gian dài kể từ khi mới thành lập, Ngân hàng cũng thường gắn bó với doanh nghiệp và tài trợ cho doanh nghiệp từ tài sản cố định đến vốn lưu động.2 Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng chủ yếu tập trung vào danh mục tín dụng đặc biệt là nhóm khách hang doanh nghiệp. Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra nhất đối với Ngân hàng.
Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên nhân thường phát sinh chủ yếu từ hoạt động tín dụng của ngân hàng.1 Rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng đối với khách hàng của ngân hàng, biểu hiện trên thức tế qua việc khách hàng vay không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Như vậy có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của ngân hàng đối với khách hàng vay vốn. Đây được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng.2 Phân loại rủi ro tín dụng Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu.
Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 các loại rủi ro sau đây: Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro giao dịch danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn bảo đảm nghiệp vụ nội tại tập trung Theo sơ đồ trên đây, rủi ro tín dụng doanh nghiệp được chia ra thành hai loại rủi ro là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch gồm ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ - Rủi ro lựa chọn là loại rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
- Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. - Rủi ro nghiệp vụ là loại rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh rủi ro là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của Ngân hàng, được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 phân chia thành hai loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. - Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. Rủi ro tập trung: Là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay có độ rủi ro cao.3 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng đối với khách hang doanh nghiệp được chia thành 3 nhóm sau đây: Nguyên nhân thuộc về phía Ngân hàng. - Do ngân hàng tăng trưởng tín dụng mà không có sự kiểm soát chất lượng tín dụng: Trong thời kỳ Ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng nóng dẫn đến áp lực tăng dư nợ của các ngân hàng, điều này đồng nghĩa với việc nới lỏng các quy chế, quy định trong thủ tục cấp tín dụng dẫn đến rủi ro trong tín dụng là rất lớn. - Ngân hàng ban hành chính sách tín dụng, quy trình nghiệp vụ tín dụng doanh nghiệp quá lỏng lẻo dẫn đến có nhiều khe hở trong quá trình cấp tín dụng doanh nghiệp.
- Không tuân thủ các quy trình, quy định cấp tín dụng của Ngân hàng. Một khi cán bộ tín dụng không tuân thủ đúng các quy trình, quy định cấp tín dụng mà Ngân hàng đã ban hành như thẩm định khách hàng sơ sài, cho vay vốn không đúng mục đích hoặc cố tình làm sai với quy trình cấp tín dụng để khách hàng được vay vốn… những điều này sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng. - Ngân hàng không nắm bắt được thông tin về thị trường, về lĩnh vực đầu tư dẫn đến phân tích thông tin không đầy đủ, chính xác dẫn đến cho vay, đầu tư cho các doanh nghiệp không hiệu quả. - Ngân hàng đánh giá không đúng về tài sản đảm bảo của doanh nghiệp (về tài sản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.