Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương 2: Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Chương 3: Thực trạng hoạt động tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel II tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín theo chiến lược phát triển của NHNN. Chương 4: Những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel II tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín.
Tài liệu tham khảo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO HIỆP ƢỚC BASEL. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thƣơng mại: Tín dụng là hoạt động kinh doanh cơ bản của Ngân hàng, theo đó, Ngân hàng sẽ thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính, và các dịch vụ khác…và được thực hiện thông qua các hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ. Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng luôn chiếm tỉ trọng cao và chủ yếu trong thu nhập của các Ngân hàng.
Tuy nhiên, lợi nhuận cao dĩ nhiên luôn đi kèm với nhiều rủi ro buộc phải đối mặt xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau. Chính vì vậy, vấn đề hạn chế rủi ro xảy ra luôn được các Ngân hàng đặt lên hàng đầu để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh cũng như lợi nhuận của mình. Vì vậy để Ngân hàng tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh thì hệ thống Ngân hàng luôn phải tìm cách không chỉ mở rộng chiến lược và phương thức kinh doanh mà còn phải đi đôi với nâng cao quản trị rủi ro. Việc cấp tín dụng của ngân hàng góp phần tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất trong xã hội phát triển, dựa vào vốn vay của Ngân hàng mà các cá nhân/doanh nghiệp có thể bổ sung vốn kinh doanh thiếu hụt tạm thời cho việc mở rộng sản xuất và phục vụ nhu cầu đời sống.
Bên cạnh đó, trong quá trình toàn cầu hóa, giao thương quốc tế được tăng cường thì tín dụng cũng là một phần thiết yếu giúp cho việc liên kết và giao dịch thanh toán quốc tế được thuận lợi và phát triển. Đồng thời hoạt động tín dụng cũng giúp cho việc điều hòa nguồn vốn góp phần làm ổn định thị trường tiền tệ, phát triển cân đối các ngành trong kinh tế quốc dân và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thông qua tín dụng mà nguồn vốn dịch chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm cho việc sử dụng vốn có hiệu quả, tốc độ luân chuyển hàng hóa và tiền vốn tăng lên, tạo sự phát triển đồng đều trong các ngành. Từ đó, góp phần ổn định nền kinh tế và sự phát triển của thị trường tài chính tiền tệ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng Thƣơng mại. Theo Joel Bessis trong cuốn “Quản trị rủi ro trong Ngân hàng” tái bản lần thứ 4 năm 2015 thì khái niệm về rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng là rủi ro quan trọng nhất trong Ngân hàng, đó là rủi ro đối tác sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Theo các qui định, RRTD chia thành một vài thành phần rủi ro tín dụng như: rủi ro vỡ nợ, rủi ro giảm uy tín, rủi ro nguy cơ, tức là sự bất trắc về giá trị trong tương lai của khoản tiền có thể thua lỗ vào thời điểm vỡ nợ chưa biết”. Quan điểm của Hennie Van Greuning- Sonja Brajovic Bratanovic (2009) thì rủi ro tín dụng được hiểu là nguy cơ mà người được cấp tín dụng (người đi vay) không thể chi trả tiền lãi, vốn gốc theo thời gian được qui định trong hợp đồng tín dụng đã kí kết.
Tổn thất này nếu xảy ra sẽ gây tác động tiêu cực đến dòng lưu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới thanh khoản của ngân hàng. Và theo Thomas P.Fitch (2012) thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người đi vay không trả được nợ vay theo điều khoản đã kí trên hợp đồng dẫn đến vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Bên cạnh rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những vấn đề chủ yếu trong công tác cấp tín dụng của ngân hàng. Theo Ủy ban Basel (2004) thì định nghĩa “RRTD là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận”.
Tại Việt Nam, theo Khoản 1- Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” cùng với Thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 về việc sửa đổi bổ sung TT 02/2013/TT-NHNN có giải thích từ ngữ như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Như vậy, từ các quan điểm trên, tác giả cho rằng rủi ro tín dụng của Ngân hàng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng mà khi đó bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ bao gồm gốc và lãi vay theo đúng cam kết như trên hợp đồng tín dụng cho Ngân hàng. Điều này dẫn đến tổn thất và thiệt hại ảnh hưởng đến lợi nhuận của Ngân hàng vì hoạt động tín dụng được xem là quan trọng nhất, là thước đo đối với việc đánh giá sự thành công và hiệu quả của một Ngân hàng, chính vì thế quản trị rủi ro tín dụng luôn là sự ưu tiên của Ngân hàng. Về phương diện những nhân tố cấu thành rủi ro tín dụng thì theo nhà kinh tế học Bessis trong cuốn “Risk Management in Banking- Quản trị rủi ro trong Ngân hàng” – sách dịch của Nhà xuất bản Lao động năm 2012 thì đó là rủi ro được cấu thành bởi các thành tố như sau: rủi ro vỡ nợ, sự giảm uy tín, rủi ro đối tác, rủi ro hồi phục, rủi ro tương quan và tập trung, rủi ro chênh lệch và rủi ro quốc gia.
Tùy theo từng cấp độ của những yếu tố trên sẽ thể hiện mức độ tổn thất tín dụng cao hay thấp và ảnh hưởng của nó đến tình hình tín dụng chung của ngân hàng. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, có cả chủ quan cũng như khách quan. Nguyên nhân khách quan bao gồm các lí do liên quan đến môi trường chính trị, chính sách vĩ mô của Nhà nước, môi trường hoạt động kinh doanh, nguyên nhân thông tin bất cân xứng hoặc từ những khách hàng vay.
Trong đó, nguyên nhân chủ quan có thể xuất phát từ nội bộ như chính sách cho vay thiếu minh bạch, trình độ và đạo đức cán bộ quản lí, sự lỏng lẻo trong kiểm soát sau vay… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến Ngân hàng Thương mại. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với nền kinh tế: Việc kinh doanh của NHTM có mối liên kết chặt chẽ đến nhiều ngành nghề khác trong nền kinh tế nên nó mang tính xã hội hóa cao. Chính vì vậy, khi phát sinh rủi ro tín dụng, nặng nề nhất có thể sẽ làm cho một ngân hàng bị sụp đổ và gây ảnh hưởng tiêu cực đến các ngành/ bộ liên quan trong xã hội.
Nhưng sự sụp đổ này, chịu ảnh hưởng đầu tiên ngoài TCTD sụp đổ ra chính là những ngân hàng khác, bởi chúng có liên hệ tương quan với nhau trong hoạt động nên một ngân hàng sụp đổ có thể dẫn đến sự phá sản của các ngân hàng còn lại- hiệu ứng kéo theo (hiệu ứng domino). Không những thế, hậu quả khác còn là sự mất đi niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính bao gồm cả sự thực thi chính sách tiền tệ của Chính phủ. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến Ngân hàng: Trước tiên là giảm lợi nhuận. Thứ hai là giảm khả năng thanh toán và uy tín của ngân hàng.
Thứ ba là nguy cơ phá sản và sụp đổ ngân hàng. Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng Thƣơng mại. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng Căn cứ vào những tác động của rủi ro tín dụng đến việc kinh doanh của ngân hàng cũng như nền kinh tế, tùy khẩu vị rủi ro mà mỗi ngân hàng xây dựng và có những chiến lược và chính sách quản trị tương thích để hoàn thành mục tiêu kinh doanh. Quản trị RRTD giúp tăng cường hiệu quả trong công tác cấp tín dụng của ngân hàng cũng như lợi nhuận từ việc kinh doanh của nó.
Chính vì vậy, quản trị RRTD là vấn đề rất quan trọng trong quản trị ngân hàng thương mại. Theo giáo trình “Ngân hàng thương mại” của Học viện Ngân hàng, chủ biên Phan Thị Thu Hà (năm 2013) thì “Quản trị RRTD là quá trình xây dựng, thực thi các chính sách và biện pháp quản lí tín dụng nhằm đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 phát triển bền vững, tìm ra nguyên nhân và xử lí các tình huống xảy ra RRTD, tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh NHTM”. Và “Hiệu quả quản trị RRTD là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt lõi cho của sự thành công của ngân hàng trong dài hạn” (Theo Basel I Committee on Banking Supervision, 2000). Như vậy, theo tác giả, có thể diễn giải khái niệm quản trị RRTD là việc ngân hàng lên kế hoạch, triển khai thực thi và đẩy mạnh giám sát các hoạt động cấp tín dụng, với mục đích đạt được lợi nhuận tối đa nhưng đi cùng với một mức rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận được.
Quản trị RRTD tốt chính là một lợi thế cạnh tranh và là một công cụ tạo ra giá trị, góp phần tạo ra các chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn. Quy trình quản trị rủi ro tín dụng: Điều tiên quyết trong quản trị RRTD là phải hình thành và thiết lập được một quy trình quản trị RRTD.