CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIAN LẬN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1.1 Tổng quan về gian lận 1.1 Khái niệm về gian lận Theo từ điển Tiếng Việt “Gian lận là hành vi cố ý lừa dối, giấu diếm, xuyên tạc sự thật với mục đích tư lợi.” Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 “Gian lận là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính”. Từ đó có thể hiểu hành vi gian lận Thuế GTGT là hành vi thiếu trung thực, cố ý làm sai lệch thông tin liên quan đến tính Thuế GTGT để không thực hiện nghĩa vụ đóng thuế, làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số Thuế GTGT được hoàn.2 Sơ lược các công trình nghiên cứu về gian lận Cùng với quá trình phát triển của xã hội, hành vi gian lận ngày càng tinh vi hơn và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Sau đây xin sơ lược một số công trình nghiên cứu về gian lận kinh điển trên thế giới. Sutherland là người tiên phong trong việc nghiên cứu về gian lận.
Cho đến nay, những lý thuyết về gian lận vẫn dựa chủ yếu vào những nghiên cứu của ông. Ông không phải là người có công đầu trong việc phân tích tâm lý của những kẻ phạm tội nhưng ông là cha đẻ của thuật ngữ “white-collar” – một thuật ngữ mà ngày nay đã trở thành rất thông dụng khi người ta muốn ám chỉ tới những gian lận do tầng lớp lãnh đạo của công ty gây ra. Một đóng góp to lớn trong sự nghiệp của Sutherland là lý thuyết về phân loại xã hội. Nghiên cứu này chủ yếu dựa vào việc quan sát tội phạm đường phố: những kẻ lưu manh, sát thủ hay những kẻ du thủ du thực.
Qua đó, Sutherland đã rút ra một kết luận: việc phạm tội thường phát sinh từ môi trường sống, vì thế hành vi phạm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 tội không thể được tiến hành nếu như không có sự tác động của yếu tố bên ngoài. Để hiểu rõ bản chất và nhận diện tội phạm, cần nghiên cứu thái độ cũng như động cơ thúc đẩy hành vi phạm tội. Cressey Là học trò xuất sắc của Sutherland tại trường đại học Indiana, Donald R. Cressey Cressey tập trung hướng phân tích gian lận dưới góc độ tham ô và biển thủ.
Ông là người phát minh tam giác gian lận. Cressey, hành vi gian lận chỉ được thực hiện trên cơ sở hội đủ 3 yếu tố: áp lực, động cơ, cá tính của con người. Steve Albrecht Ông là tác giả của một mô hình nổi tiếng, mô hình về bàn cân gian lận. Mô hình này gồm có ba nhân tố: Hoàn cảnh tạo ra áp lực, nắm bắt cơ hội và tính liêm chính của cá nhân.
Theo Albercht, khi hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận cao cùng với tính liêm chính của cá nhân thấp thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất cao. Và ngược lại, khi hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận thấp cùng với tính liêm chính cao thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất thấp. Hollinger Cùng với người đồng sự của mình, Richard C. Hollinger và John P Clark cho rằng nguyên nhân chủ yếu của gian lận chính là điều kiện nơi làm việc.
Hai ông đưa ra một loạt những giả thuyết về tình trạng nhân viên biển thủ tài sản của công ty: - Khi nền kinh tế có những khó khăn chung: giá cả tăng, đồng tiền mất giá. - Những người đương thời, đặc biệt là những người trẻ tuổi thường kém trung thực và không chịu khó làm như những thế hệ đi trước. - Bản chất tự nhiên của con người là lòng tham và không trung thực, vì thế các nhân viên thường cố gắng lấy cắp tài sản của công ty khi có cơ hội. - Sự không hài lòng, không thỏa mãn với công việc cũng là một trong những nguyên nhân của việc biển thủ.
- Và cuối cùng, do cấu trúc của công ty đó có hợp lý hay không. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Ông còn tìm ra một loạt những mối liên hệ giữa thu nhập, tuổi tác, vị trí và mức độ hài lòng trong công việc với tình trạng biển thủ. Chẳng hạn như mối liên hệ giữa thu nhập và biển thủ. Theo đó, một người chịu áp lực về tài chính hay có những rắc rối trong tình hình tài chính không gây ra nhiều động cơ biển thủ so với việc anh ta luôn luôn đặt tài chính như ưu tiên số một cho mục tiêu sống của anh ta.
Còn đối với mối tương quan giữa tuổi tác và biển thủ, Hollinger và Clark cho rằng thông thường, trong một tổ chức những người trẻ tuổi thường không được giao nhiều trách nhiệm, đương nhiên phần đó thuộc về những người có nhiều kinh nghiệm làm việc và có tuổi đời cao hơn. Nhưng chính cách bố trí này đã làm cho mức độ gắn kết với công ty, những cam kết cá nhân hay những ràng buộc với mục tiêu của tổ chức trở nên lỏng lẻo. Và đấy chính là một lý do khiến cho tỉ lệ biển thủ ở những ngưởi trẻ tuổi thường cao hơn. Hai ông còn tìm ra mối liên kết trực tiếp giữa vị trí chức vụ và mức độ biển thủ.
Khởi nguồn của hành vi biển thủ thường do sự không hài lòng về công việc hiện tại nhưng mức độ nghiêm trọng của việc biển thủ thì lại tùy thuộc vào vị trí của người đó trong tổ chức, thông thường những người có hành vi biển thủ ở vị trí cao cấp thì hành vi đó thường gây ra những tổn thất lớn.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất của đề tài 1.1 Mô hình lý thuyết Có thể nói, gian lận xuất hiện khi có sự xuất hiện của con người, thế nhưng việc nghiên cứu về gian lận và phát hiện gian lận mới chỉ dừng lại ở một mức độ rất khiêm tốn. Hiện nay, trên thế giới chỉ có một số công trình nghiên cứu về gian lận kinh điển như công trình nghiên cứu của Edwin H.Sutherland; công trình nghiên cứu của Donald R.Cressey về tam giác gian lận, hay công trình nghiên cứu của D.Steve Albrecht về bàn cân gian lận và gần đây hơn là công trình nghiên cứu gian lận của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa kỳ (ACFE) vào năm 1993. Trong mỗi mô hình, các nhà nghiên cứu dựa trên những giả thuyết khác nhau để nghiên cứu và đưa ra những kết luận thú vị về hành vi gian lận của con người. Ở đây, tác giả lựa chọn mô hình lý thuyết của Donald R.Cressey để phát triển mô hình LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 lý thuyết về hành vi gian lận thuế GTGT của các DNTM tại địa bàn tỉnh Tiền Giang.
Cressey, hành vi gian lận chỉ được thực hiện trên cơ sở hội đủ 3 yếu tố sau: động cơ hay áp lực; cơ hội và khả năng hợp lý hóa hành vi của con người. Những yếu tố này phải được đưa vào để xem xét một cách đúng mức nhằm hiểu rõ bản chất và tìm ra nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế GTGT.Cressey cho rằng khởi nguồn của việc thực hiện gian lận là do người thực hiện có những động cơ hay chịu những áp lực trong cuộc sống. Các áp lực có thể bắt nguồn từ những bế tắc trong cuộc sống cá nhân như: những tổn thất về tài chính, sự thiếu hụt tiền bạc, các khoản nợ cá nhân vượt quá tầm kiểm soát; gia đình có người ốm nặng dẫn đến các áp lực về tinh thần, tài chính. Các áp lực này có thể xuất phát từ những nhu cầu nói chung và nhu cầu lợi ích của bản thân nói riêng.
Động cơ là một nhu cầu đã có đủ sức mạnh để thôi thúc người ta hành động. Với một số người, để có được những khoản tiền thưởng về tài chính dựa trên mức độ hoàn thành chỉ tiêu tài chính của công ty hay để đạt được một quyền lực, một sự thăng tiến nào đó trong công việc và một sự giàu sang thay vì chăm chỉ làm việc bằng nổ lực bản thân thì họ lại suy nghĩ bản thân phải tìm mọi cách để thỏa mãn ngay lập tức nhu cầu của mình bằng bất cứ giá nào kể cả hành vi gian lận. Cơ hội: Cơ hội là cánh cửa để cá nhân thực hiện hành vi gian lận. Một khi đã có những áp lực hay động cơ thúc đẩy mà không có hoạt động kiểm soát hoặc hệ thống kiểm soát kém hiệu quả thì lúc đó cơ hội đã đến, khi đó ắt hẳn hành vi gian lận sẽ được thực hiện.
Do hoạt động kiểm soát kém hiệu quả nên không thể thiết lập các thủ tục thích hợp để phát hiện gian lận hay nó làm cho các biện pháp kiểm soát không hoạt động như thiết kế ban đầu làm tăng cơ hội cho gian lận xảy ra. Theo Cressey, có hai yếu tố để tạo ra cơ hội là: nắm bắt thông tin và có kỹ thuật để thực hiện. Khả năng hợp lý hóa hành vi: Hợp lý luôn là một thành phần quan trọng của hầu hết các gian lận bởi vì hầu hết những người có hành vi gian lận có khả năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 biện minh hay có khả năng hợp lý hóa cho hành vi gian lận của mình với những lý do để được chấp nhận là hành động đúng đắn. CƠ HỘI GIAN LẬN (FRAUD) KHẢ NĂNG ÁP LỰC HỢP LÝ (ĐỘNG HÓA CƠ) HÀNH VI Hình 2.1: Mô hình lý thuyết Công trình nghiên cứu của Cressey cũng cho thấy rằng, hành vi gian lận có thể được tiến hành hay không còn tùy thuộc vào cá tính của con người.
Đối với những người không trung thực, nó có lẽ là dễ dàng hợp lý hóa gian lận hơn với những người có tiêu chuẩn đạo đức cao hơn, để tiến hành hành vi gian lận họ phải thuyết phục bản thân để “bào chữa” cho hành vi của mình, lúc đầu họ lấy lý do là hành vi gian lận chỉ xảy ra trong ngắn hạn, họ sẽ không để chuyện này lặp lại, nhưng dần dần điều này sẽ trở nên bình thường hơn, Cressey cho rằng đây là phản ứng tự nhiên của con người: lần đầu tiên làm những điều trái với lương tâm và đạo đức của mình, họ sẽ bị ám ảnh nhưng ở những lần kế tiếp, người thực hiện sẽ không cảm thấy băn khoăn và mọi việc diễn ra dễ dàng hơn, dễ được chấp nhận hơn và khả năng xảy ra gian lận sẽ cao hơn nếu cá nhân đó là người “xấu”.