MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghèo đói là một vấn đề mang tính chất toàn cầu, đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục với những mức độ khác nhau và chở thành một thách thức lớn đối với sự phát triển của từng khu vực và từng quốc gia, dân tộc và từng địa phương. Nghèo đói làm cho nền kinh tế chậm phát triển, giải quyết vấn đề nghèo đói là động lực phát triển kinh tế xã hội. Ngay cả các nước phát triển cao cũng có tình trạng nghèo đói và chêng lệch giàu nghèo ngày càng trở nên cách biệt.
Theo thống kê, trong số 7 tỷ người sống trong hành tinh này, hiện có khoảng 1,1 tỷ người hiện đang sống dưới mức cực kì nghèo theo chuẩn quốc tế là 1,25 USD một ngày. Chính phủ Việt Nam coi vẫn đề giảm nghèo là mục tiêu quan trọng xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong hơn 20 năm đổi mới và phát triển, chính phủ việt Nam đã thực hiện nhiều đề án, chương trình, giải pháp nhằm giảm tỷ lệ nghèo xuống mức thấp nhất, cả hệ thống chính trị Việt Nam đã nỗ lực phấn đấu thực hiện chiến lược toàn diện về tăng trưởng, giảm nghèo, đã đạt được những kết quả to lớn và bền vững rất đáng tự hào, được nhân dân trong nước hưởng ứng mạnh mẽ, được các tổ chức quốc tế đánh giá cao[1]. Tuy nhiên do nền kinh tế nước ta chưa phát triển do bởi, xuất phát điểm thấp, hậu quả của chiến tranh còn nặng nề, cơ chế quản lý cũng không phù hợp với xu thế phát triển chung.Ngoài ra điều kiện tự nhiên cũng có những tác động không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế như: khí hậu thời tiết khắc nghiệt, thiên tai, dịch bệnh vẫn thường xuyên sảy ra.Thêm vào đó trình độ tay nghề, kinh nghiệm sản xuất của người lao động còn thấp.
Trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng của quá trình phát 2 triển kinh tế - xã hội không đều đến tất cả các vùng, các nhóm dân cư.Vì vậy, một bộ phận dân cư do các nguyên nhân khác nhau chưa bắt kịp với sự thay đổi, gặp những khó khăn trong đời sống, sản xuất và trở thành người nghèo. Xác định rõ tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và môi trường, để thực hiện thành công mục tiêu đưa nước trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, Đảng và Nhà nước ta cần làm là đưa nước ta thoát khỏi nước nghèo và kém phát triển vì vậy vấn đề giảm nghèo là một chủ trương lớn, là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Bắc, nơi đây với địa hình núi đá, chia cắt phức tạp, khí hậu khắc nghiệt, hạ tầng cơ sở còn thấp kém, kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn. Vì thế huyện Trà Lĩnh cũng nằm trong điều kiện chung của tỉnh nên cũng không tránh khỏi những khó khăn chung đó của tỉnh.
Xã Xuân Nội – huyện Trà Lĩnh – tỉnh Cao Bằng là một xã dân số sống bằng nghề nông nghiệp, thu nhập của hộ chủ yếu dựa vào nông nghiệp, là một xã vùng 3 đặc biệt khó khăn của huyện. Chính vì vậy, trước tình trạng đó huyện Trà Lĩnh đã có rất nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ các hộ đói nghèo thoát khỏi đói giảm nghèo. Nhằm rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, tạo cơ hội cho mọi người dân đều có quyền bình đẳng tối thiểu ngang nhau. Các chính sách về xóa đói giảm nghèo được chính quyền địa phương tổ chức triển khai một ách chặt chẽ, được đông đảo người dân hưởng ứng và đồng tình thực hiện.
Vì vậy đời sống của người dân đã từng bước được cải thiện rõ rệt. Xong trong thực tế các cơ chế chính sách về xóa đói giảm nghèo không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách nghiêm túc và có hiệu quả. Chính vì những lí do và tính cấp thiết của vấn đề đã nêu trên nên trong luận văn của mình em đã chọn đề tài nghiên cứu : “ Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại xã Xuân Nội – huyện Trà Lĩnh – tỉnh Cao Bằng’’ 3 1. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân những yếu tố chính ảnh hưởng đến nghèo của các hộ nông dân đưa ra những giải pháp giảm nghèo cải thiện đời sống nhân dân trong xã. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu - Điều tra sơ bộ và phân tích thực trạng nghèo đói - Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến nghèo trên địa bàn xã Xuân Nội, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn 2016 – 2018 - Tìm hiểu các chương trình giảm nghèo đã và đang thực hiện tại địa phương và những bài học rút ra từ chương trình này. - Đề xuất được các giải pháp giảm nghèo phù hợp và thật sự thiết thực giúp các hộ gia đình nghèo tại địa phương nhằm góp phần giảm tỷ lệ nghèo và xây dựng địa phương ngày càng phát triển. Ý nghĩa của khóa luận 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Nghiên cứu đề tài là cơ hội để cho sinh viên thực hành những kiến thức đã học, áp dụng kiến thức vào thực tế, giúp sinh viên nâng cao kiến thức và kinh nghiệm thực tế. - Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên vận dụng nhiều kiến thức đã học để dựa vào thực tế, các thủ thuật về xác suất thống kê, kĩ năng đặc câu hỏi khai thác thông tin, các phương pháp PRA, khả năng phân tích xử lý số liệu, khả năng nhân định theo các nguyên lý phát triển nông thôn, sự tổng hợp và đưa ra các lý luận từ những vấn đề thực tiễn. - Đề tài là nguyền nguyên liệu bổ sung cho công tác nghiên cứu học tập của các bạn sinh viên khóa sau. Ý nghĩa trong thực tiễn Xóa đói giảm nghèo là mục tiêu hàng đầu của Đảng và Nhà nước nói 4 chung cũng như của toàn thể nhân dân xã Xuân Nội nói riêng.
Nghiên cứu đề tài sé góp phần vào việc đánh giá thực trạng đói nghèo tại địa phương, tìm hiểu những nguyên nhân nghèo đói, hiệu quả của các chích sách, chương trình xóa đói giảm nghèo và tác động của những chính sách này đến đời sống sản xuất và sinh hoạt của người dân địa phương. Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là cơ sở giúp chính quyền và các ban ngành đoàn thể của xã đưa ra những biện pháp giảm nghèo và phát triển một cách hiệu quả hơn. 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Những vẫn đề cơ bản về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo 2. Một số khái niệm về nghèo - Đói nghèo từ tiếng nói của chính người nghèo. Tiếng nói của người nghèo cho ta những cảm nhận cụ thể, rõ ràng nhất về các khía cạnh của nghèo đói (nghèo đói không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất mà còn là sự thụ hưởng thiếu thốn về giáo dục và y tế. Một người nghèo ở Kênia đã nói về sự nghèo đói: “Hãy quan sát ngôi nhà và đến xem có bao nhiêu lỗ thủng trên đó.
Hãy nhìn những đồ đạc trong nhà và quần áo tôi đang mặc trên người. Hãy quan sát tất cả và ghi lại những gì ông thấy. Cái mà ông thấy chính là nghèo đói”.[1] Một nhóm thảo luận Braxin đã định nghĩa về đói nghèo là: “Tiền lương thấp và thiếu việc làm, và cũng có nghĩa là không được hưởng thụ về y tế, không có thức ăn và quần áo”.[2] Ngoài ra, khái niệm đói nghèo còn được mở rộng để tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương, không có tiếng nó và quyền lực. Từ tiếng nói của người nghèo, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm về đói nghèo.
Tuỳ thuộc vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc gia mà ta có các quan điểm khác nhau về nghèo đói.[2] - Quan niệm trước đây Trước đây người ta thường đánh đồng nghèo đói với mức thu nhập thấp. Coi thu nhập là tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự nghèo đói của con người. Quan niệm này có ưu điểm là thuận lợi trong việc xác định số người nghèo dựa theo chuẩn nghèo, ngưỡng nghèo. Nhưng thực tế đã chứng minh việc xác định đói nghèo theo thu nhập chỉ đo được một phần của cuộc sống.
Thu nhập thấp không phản ánh hết được các khía cạnh của đói nghèo, nó không cho 6 chúng ta biết được mức khốn khổ và cơ cực của những người nghèo. Do đó, quan niệm này còn rất nhiều hạn chế. - Quan điểm hiện nay Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo đã được hiểu rộng hơn, sâu hơn và cũng có thể được hiểu theo các cách tiếp cận khác nhau: - Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc - Thái Lan đã đưa ra khái niệm về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. + Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương.[2] + Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng.[2] + Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế.
+ Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một vùng. - Năm 1998 UNĐP công bố một bản báo cáo nhan đề “khắc phục sự nghèo khổ của con người” đã đưa ra những định nghĩa về nghèo. + Sự nghèo khổ của con người: thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết, được tham gia vào các quyết định cộng đồng và được nuôi dưỡng tạm đủ. 7 + Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu.
+ Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng thoả mãn những nhu cầu tối thiểu.