ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lý do chọn dé tài Sau nhiễu năm đổi mới và chuyển đổi, nền kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản về các quan hệ kinh tế — xã hội, đưa đến một giai đoạn phát triển kinh tế và giảm tỷ lệ nghèo đói chưa từng thấy sau hơn bốn thập kỷ của chiến tranh, khó khăn trong phát triển kinh tế. Trong lĩnh vực này, Việt Nam được biết đến như một tấm gương xuất sắc về sự chuyển đổi thành công từ một nên kinh tế kế hoạch tập trung sang nên kinh tế thị trường. Cơ chế kinh tế mới đã tạo ra những nhân tố mới cho tăng trưởng kinh tế với các kết quả day ấn tượng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ 1991-2000 đạt 7,50%/năm, xuất khẩu tăng nhanh, từng bước kiểm soát được lạm phát và ổn định giá cả.
Cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã đạt được những kết quả xuất sắc trong xoá đói giảm nghèo. Chú trương của Chính phủ ưu tiên phát triển nông nghiệp và nông thôn, vùng sâu, vùng xa đã thành công trong việc giải phóng sức sản xuất của dân cư nông thôn và khuyến khích dân cư tự mình phấn đấu cải thiện hoàn cảnh sống cia mình. Những thành công trong lĩnh vực này, nhất là về sản xuất lương thực đã góp phan quan trọng vào việc xoá doi giấm nghèo, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của dân cư. Tuy nhiên, vẫn còn một số bộ phận không nhỏ sống nghèo khổ, đói rét đang cần được sự giúp đỡ, đặc biệt là din cư vùng sâu, vùng xa.đang chịu cảnh nghèo đói, không đảm bảo được những diéu kiện tối thiểu của cuộc sống, Sự phân hoá giàu nghèo đã va đang diễn ra mạnh mẽ cần phải đặc biệt quan tâm.
Đây cũng chính là lý do tôi chọn dé tài :” Tìm hiểu tình hình nghèo khổ và một số biện pháp nhằm giảm nghèo tại xã Phước Vinh - huyện Châu Thành- tỉnh Tây Ninh “. Với mong muốn có thể tìm hiểu được điều kiện sinh sống của người dân nơi đây, qua đó có thể đóng góp một phan nào vào công cuộc xoá đói giảm nghèo tại địa phương. Mục đích nghiên cứu Dé tài được nghiên cứu với mục đích : - Phân tích làm rõ thực trạng nghèo khổ trên địa bàn xã. - Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện công tác XDGN - Nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp phù hợp góp phần XDGN trên địa bàn xã.
- Tạo điều kiện để người dân thoát nghèo một cách nhanh chóng. Như vậy, mục tiêu chủ yếu của để tài là để trả lời những câu hỏi sau: - Xem-xét thực trang nghèo ở địa phương ra sao? - Người nghèo ở đây gặp những khó khăn gì trong cuộc sống ? - Những biện pháp đưa ra có phù hợp với tình hình nghèo khổ ở địa phương hay không? - Các chương trình đã đem lại những lợi ích gì cho người nghèo nơi đây? 1. Nội dung nghiên cứu - Tìm hiểu tình hình nghèo khổ trên địa bàn xã. - Phân tích và đáng giá tác động của các chương trình đến các bộ nghèo.
- Tìm hiểu tình hinh thu nhập cũng như tình hình vay vốn của các hộ nghèo. - Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm nghèo tại địa phương. Ý nghĩa của đề tài > _ Nghiên cứu tình hình sinh hoạt, tập quán, lối sống của các hộ nghèo để lam cơ sở cho việc giúp người nghèo thoát nghèo một cách nhanh chóng và có hiệu quả. Đồng thời có những mục tiêu cụ thể để xây dựng nông thôn một cách bền vững.
> Nghiên cứu đánh giá tình hình thực hiện các chương trình ở địa phương trong những năm qua để xem xét kết quả, hiệu quả mang lại cũng như những khó khăn gặp phai để làm cơ sở dé ra các mục tiêu và giải pháp phù hợp. > Xem xét tình hình vay vốn và sử đụng vốn vay, số hộ và số tiền vay, nợ quá hạn và nợ khó đòi, lý do và những tác động chính của chương trình XDGN đến mức sống và thu nhập của người dân trong xã. > Để xuất một số biện pháp XPGN sẽ giúp cho việc định hướng đúng đắn mục tiêu, kinh tế-xã hội, tiến tới ổn định chính trị, kinh tế và an ninh quốc phòng. Phạm vi nghiên cứu > Không gian : để tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi xã Phước Vinh - huyện Châu Thành - tỉnh Tây Ninh.
> Thời gian : từ ngày 15/2/2004 đến ngày 15/6/2004 > Trong thời gian thực hiện dé tài, tôi đã cố gắng bám sát dia ban và tiếp xúc trực tiếp với người dân, thu thập số liệu và tiến hành phân tích. Tuy nhiên với điều kiện thời gian hạn hẹp cộng với năng lực cá nhân còn nhiều hạn chế nên dé tài còn nhiều thiếu sót. Tôi rất mong sự chỉ dẫn, bổ sung ý kiến của các quý thây cô khoa Kinh tế cùng các cô chú ở UBND xã để dé tài được hoàn thiện hơn. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VA PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Định nghĩa về nghèo đói 2.1 Một số khái niệm Nghèo đói là vấn dé kinh tế xã hội có quá trình hình thành gắn chặt với lịch sử phát triển của loài người và tuỳ vài từng giai đoạn phát triển cụ thể mà ta có những định nghĩa về nghèo đói khác nhau.
Định nghĩa về nghèo đói được Uỷ ban kinh tế-xã hội Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) đưa ra trong hội nghị bàn về XĐGN ở khu vực Châu A Thái Bình Dương tại Băng Cốc tháng 03/1993 như sau : Đói nghèo là tình trạng bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán địa phương. Nghèo : Nghèo là tình trạng thu nhập của người dân gần như được chỉ toàn bộ cho bữa ăn, thậm chí còn không đủ, phần tích luỹ hầu như không có, các nhu cầu tối thiểu khác như :mặc, ở, văn hoá, y tế, giáo duc,.chi đáp ứng được một phần rất ít di Nghèo cũng được phân biệt ở hai mức độ : + Nghèo tuyệt đối : là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống. + Nghèo tương đối : là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng mà dân cư đó sinh sống. Nhu cau tối thiểu ở đây là: + Ăn + Mặc + Văn hoá, giáo dục, đi lại 2.
Chỉ tiêu đánh giá nghèo đói Tuỳ vào cách tiếp cận nghèo đói khác nhau mà đưa ra những chỉ tiêu về nghèo đói khác nhau: Theo WB, mức sống giàu nghèo được đánh giá bằng chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân đầu người (GDP/người) đây là phương pháp được sử dụng phổ biến ở các quốc gia để định lượng nghèo đói. Theo Liên Hợp Quốc, sử dụng chỉ tiêu HDI (Human Development Index) được căn cứ trên bình quân đầu người kết hợp với các yếu tố tuổi thọ và tình trạng biết chữ của người lớn. Hội đồng phát triển hải ngoại (OCD), gọi là “chỉ tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống” hay chỉ tiêu PQLI (Physical Quality-Of-Life-Index) dé cập đến 3 yếu tố liên quan chặt chẽ đến cuộc sống con người là: tuổi thọ, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và tỷ lệ xoá mù chữ. Nhận xét : Cả 3 chỉ tiêu GDP, HDI, PQLI đều có những ưu và nhược điểm khi sử dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống của con người.
Chẳng hạn như chỉ tiêu GDP thì quá dé cao yếu tố vật chất mà lơ là các nhu cầu về tinh thần, xã hội của con người. Còn chỉ tiêu HDI hay PQLI là những chỉ tiêu tổng quát hơn khi nó phan ánh các mặt xã hội của đời sống. Tuy nhiên các yếu tố xã hội thi không dé lượng hoá vi vậy mà khó tránh khỏi sự méo mó, lệch lạc. Tóm lại : Sử dụng kết hợp cả ba chỉ tiêu trên sẽ cho ta phương pháp tiếp cận toàn điện bức tranh về nghèo đói.
Nghèo đói ở Việt Nam 2. Thực trạng nghèo đói ở Việt Nam Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành công rất lớn trong việc giảm ty lệ nghèo, tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng những thành tựu nay vẫn còn rất mong manh. + Thu nhập của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo, do vậy chỉ cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng nghèo và làm tăng tỷ lệ nghèo. Phần lớn thu nhập của người nghèo là từ nông nghiệp.
Với điều kiện nguồn lực hạn chế, thu nhập của những người nghèo rất bấp bênh và dễ bị tổn thương trước những đột biến của mỗi gia đình và công đồng. Nhiéu hộ gia đình tuy mức thu nhập ở trên ngưỡng nghèo, nhưng vẫn giáp ranh với ngưỡng nghèo đói, do vây khi có những dao động về thu nhập cũng có thể khiến họ trượt xuống ngưỡng nghèo. Tính mùa vụ trong san xuất nông nghiệp cũng tạo nên khó khăn cho người nghèo. + Nghèo đói tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn.
Da số người nghèo sinh sống trong các vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như ở vùng núi, vùng sâu, vung xa,.khién cho các diéu kiện sinh sống và sản xuất của người dân càng thêm khó khăn. Dae biệt sự kém phát triển về cơ sở hạ tầng của các vùng nghèo đã làm cho các vùng này càng bị tách biệt với các vùng khác. + Nghèo đói tập trung trong khu vực nông thôn với trên 90% số người nghèo sinh sống. Năm 1999, tỷ lệ nghèo đói về lương thực, thực phẩm của thành thị là 4.60 %, trong khi đó của nông thôn là 15.Trên 80% số người nghèo là nông dan, trình độ tay nghề thấp, ít có khả năng tiếp cận các nguồn lực trong san xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa lý và chất lượng sản phẩm kém.
Những người nghèo thường không có điều kiện tiếp cận hệ thống thông tin, khó có khả năng chuyển đổi sang các ngành phi nông nghiệp. Phu nữ nông dân ở vùng sâu, vùng xa là những người dé bị tổn thương nhất. Phụ nữ nghèo lao động nhiễu hơn, thu nhập ít hơn, ít có quyền quyết định trong gia đình và cộng đồng. + Nghèo đói trong khu vực thành thị có tỷ lệ nghèo đói thấp hơn và mức sống trung bình cao hơn so với mức chung cả nước nhưng mức độ cải thiện không đồng đều.
Da số người nghèo đô thị làm việc trong khu vực phi chính thức, công việc không ổn định, thu nhập thấp và bấp bênh.