Tổng quan nghiên cứu

Khu vực nông thôn Việt Nam hiện tập trung hơn 60% dân số và chiếm trên 60% lực lượng lao động của cả nước, giữ vai trò then chốt đối với ổn định an sinh và phát triển kinh tế. Tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội – địa bàn bán sơn địa chiến lược nằm cách trung tâm thủ đô 60 km với 31 đơn vị hành chính cấp xã – vấn đề việc làm cho lao động nông nghiệp đang đứng trước nhiều thách thức lớn trong tiến trình đô thị hóa. Mặc dù quy mô kinh tế của huyện tăng trưởng tích cực với tổng giá trị sản xuất năm 2019 đạt 27.120 tỷ đồng (tăng 15% so với năm 2018), áp lực thiếu việc làm cục bộ vẫn hiện hữu. Thống kê thực tế cho thấy hàng năm có tới 30% lao động nông thôn tại huyện Ba Vì phải di chuyển sang các địa phương khác tìm việc làm trong thời gian lên tới 10 tháng do tính chất mùa vụ và diện tích đất canh tác bình quân suy giảm.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng việc làm, phân tích những nhân tố thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến thị trường lao động tại huyện Ba Vì, từ đó đề xuất hệ sinh thái giải pháp khả thi cho giai đoạn 2020 - 2025. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng để địa phương tiếp tục duy trì mục tiêu tạo việc làm mới bình quân cho khoảng 3.800 lao động mỗi năm, kéo giảm tỷ lệ bán thất nghiệp từ mức 8% năm 2019 xuống các mức thấp hơn và nâng cao thu nhập bình quân đầu người vượt mốc 30,1 triệu đồng đã đạt được vào năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn kết hợp các lý thuyết kinh tế phát triển và quản trị nguồn nhân lực tiêu biểu để làm sáng tỏ cơ chế giải quyết việc làm khu vực nông thôn:

  • Lý thuyết tạo việc làm trong nông nghiệp gió mùa của Harry Toshima: Lý thuyết nhấn mạnh tính thời vụ đặc thù của nền nông nghiệp lúa nước châu Á, dẫn đến tình trạng thiếu lao động lúc cao điểm thời vụ nhưng lại dư thừa gay gắt trong các tháng nhàn rỗi. Tác giả vận dụng mô hình này nhằm luận giải giải pháp tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng vật nuôi kết hợp phát triển tiểu thủ công nghiệp để giữ chân và tận dụng tối đa thời gian lao động tại địa phương.
  • Mô hình hai khu vực của Arthur Lewis và mô hình di chuyển lao động của Harris - Todaro: Luận giải quy luật dịch chuyển lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp năng suất cận biên thấp sang khu vực công nghiệp, dịch vụ và khu vực kinh tế phi chính thức dựa trên chênh lệch thu nhập kỳ vọng giữa nông thôn và thành thị.
  • Lý thuyết tổng cầu của John Maynard Keynes: Khẳng định vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước thông qua các chính sách kích cầu đầu tư công, hỗ trợ vốn tín dụng và hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy thị trường lao động.

Hệ thống khái niệm chính trong đề tài bao gồm: việc làm (theo Điều 9 Bộ luật Lao động năm 2012), tạo việc làm (cơ chế ba bên giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước), lao động nông thôn, thất nghiệp hoàn toàn (theo chuẩn ILO) và thiếu việc làm/bán thất nghiệp (bao gồm thiếu việc làm hữu hình về thời gian và thiếu việc làm vô hình về hiệu quả thu nhập). Theo ước tính của ngành lao động, cả nước hiện có khoảng 17 triệu thanh niên nông thôn chiếm 60% lao động nông thôn, tuy nhiên có đến 80% trong số này chưa qua đào tạo chuyên môn, tạo nên khoảng trống lý luận và thực tiễn cần can thiệp chính sách.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phối hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp trong giai đoạn nghiên cứu 2017 - 2020:

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong 3 năm (2017 - 2019) từ Chi cục Thống kê, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ba Vì, cùng các chính sách như Quyết định số 1956/QĐ-TTg và Quyết định số 899/QĐ-TTg. Dữ liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp trong năm 2020 thông qua bảng hỏi cấu trúc và phỏng vấn có sự tham gia của người dân (PRA).
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tổng cỡ mẫu điều tra là 90 hộ gia đình. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng phi ngẫu nhiên kết hợp ngẫu nhiên: lựa chọn 3 xã đại diện cho 3 vùng sinh thái của huyện Ba Vì gồm xã Vạn Thắng (vùng phía Bắc - thế mạnh chăn nuôi và lâm nghiệp), xã Ba Vì (vùng phía Tây - thế mạnh cây công nghiệp, nuôi trồng thủy sản) và xã Khánh Thượng (vùng phía Nam - địa hình bằng phẳng, phát triển dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp). Tại mỗi xã, 30 hộ gia đình thuộc các nhóm kinh tế và cơ cấu ngành nghề được chọn ngẫu nhiên theo danh sách quản lý địa phương.
  • Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Nghiên cứu áp dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian (time-series) và ma trận SWOT trên phần mềm bảng tính Excel. Việc lựa chọn các phương pháp này giúp lượng hóa chính xác tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, phân tích tương quan giữa chất lượng đào tạo nghề với thu nhập, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn nội tại để đưa ra dự báo xu thế có căn cứ khoa học vững chắc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Quy mô lực lượng lao động tăng trưởng ổn định: Tổng số lao động của huyện Ba Vì năm 2019 đạt 170.601 người, đạt tốc độ phát triển bình quân 100,84% trong giai đoạn 2017 - 2019. Số lao động đang làm việc thực tế đạt 151.712 người (chiếm trên 88,9% tổng lực lượng lao động), tăng trưởng bình quân 102,53%/năm.
  • Tỷ lệ thiếu việc làm giảm mạnh: Tỷ lệ bán thất nghiệp của huyện năm 2017 là 11% đã giảm liên tục qua các năm, còn 10% năm 2018 và chạm mức 8% vào năm 2019. Tỷ lệ thất nghiệp hoàn toàn được kiểm soát ở mức rất thấp, giảm từ 0,5% năm 2017 xuống còn 0,4% năm 2019.
  • Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ: Giá trị sản xuất năm 2019 đạt 27.120 tỷ đồng; trong đó nhóm ngành dịch vụ - du lịch chiếm tỷ trọng lớn nhất với 41,2% (đạt 11.170 tỷ đồng, tăng 17,6% so với năm 2018), nông - lâm - thủy sản chiếm 36,6% (đạt 9.940 tỷ đồng, tăng 11%) và công nghiệp - xây dựng chiếm 22,2% (đạt 6.010 tỷ đồng, tăng 19%).
  • Hiệu quả đào tạo nghề gắn với chương trình mục tiêu: Trong giai đoạn 2016 - 2019, huyện đã mở 214 lớp đào tạo nghề cho 7.452 lao động nông thôn theo Đề án 1956/QĐ-TTg, tập trung vào may công nghiệp, kỹ thuật chăn nuôi thú y và trồng cây ăn quả, góp phần nâng thu nhập bình quân đầu người từ 17,1 triệu đồng (năm 2010) lên 30,1 triệu đồng (năm 2018).

Thảo luận kết quả

Sự sụt giảm của tỷ lệ bán thất nghiệp từ 11% xuống 8% phản ánh bước chuyển mình tích cực trong việc tận dụng quỹ thời gian nhàn rỗi của người dân. Nhờ hệ thống giao thông huyết mạch như Quốc lộ 32 và tiềm năng sinh thái ven sông Đà, hồ Suối Hai cùng Vườn quốc gia Ba Vì (đỉnh Tản Viên cao 1.296 m), huyện đã đẩy mạnh kinh tế du lịch và làng nghề truyền thống. So sánh với các mô hình tại huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang) hay huyện Quảng Trạch (Quảng Bình - nơi giải ngân 20.109 triệu đồng vốn vay tạo việc làm cho 585 lượt khách hàng), Ba Vì đã phát huy tốt vai trò của các Trung tâm học tập cộng đồng cấp xã trong việc phổ biến kỹ thuật sản xuất.

Về mặt trình bày học thuật, dữ liệu chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột chồng (stacked bar chart) thể hiện tỷ trọng giá trị sản xuất 3 khu vực kinh tế qua các năm 2017, 2018 và 2019. Song song đó, biểu đồ đường đôi (dual-axis line chart) sẽ minh họa rõ nét mối tương quan nghịch biến giữa tỷ lệ bán thất nghiệp giảm từ 11% về 8% với đà tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người từ 17,1 triệu đồng lên 30,1 triệu đồng. Mặc dù đạt nhiều kết quả tích cực, sự phát triển công nghiệp làng nghề tự phát đang gây sức ép lớn lên môi trường sinh thái, đồng thời chất lượng nguồn nhân lực chưa cao khiến 30% lao động vẫn phải tìm kiếm sinh kế xa nhà.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển tiểu thủ công nghiệp làng nghề: Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì phối hợp Sở Công Thương đẩy mạnh quy hoạch các cụm công nghiệp nông thôn và làng nghề sinh thái. Mục tiêu phấn đấu duy trì mức tăng trưởng khu vực dịch vụ - du lịch trên 17%/năm, giải quyết việc làm tại chỗ cho 1.500 - 2.000 lao động mỗi năm trong giai đoạn 2021 - 2025.
  • Nâng cao chất lượng đào tạo nghề theo cơ chế gắn kết doanh nghiệp: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Vì chủ trì liên kết với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp mở 50 - 60 lớp đào tạo nghề hàng năm cho khoảng 2.000 lao động nông thôn, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên trên 45% vào năm 2025, ưu tiên nhóm nghề nông nghiệp công nghệ cao và kỹ năng dịch vụ du lịch.
  • Mở rộng quy mô nguồn vốn tín dụng chính sách giải quyết việc làm: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Ba Vì chủ động mở rộng nguồn vốn ủy thác từ ngân sách thành phố Hà Nội và Quỹ Quốc gia về việc làm, đặt chỉ tiêu giải ngân 25 - 30 tỷ đồng/năm cho hơn 600 cơ sở kinh doanh, hộ gia đình vay vốn mở rộng sản xuất và hỗ trợ 50 - 100 lượt người vay vốn đi xuất khẩu lao động giai đoạn 2021 - 2023.
  • Phát triển mạng lưới kết nối cung - cầu thông qua sàn giao dịch việc làm vệ tinh: Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội phối hợp chính quyền 31 xã, thị trấn tổ chức định kỳ 12 phiên giao dịch việc làm lưu động mỗi năm, hướng tới tư vấn nghề nghiệp và kết nối việc làm thành công cho ít nhất 1.200 lao động nông thôn mỗi năm từ năm 2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ lãnh đạo và quản lý tại Ủy ban nhân dân cấp huyện và xã: Cung cấp bức tranh thực chứng về lao động tại 31 đơn vị hành chính của Ba Vì, hỗ trợ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Nông nghiệp và PTNT xây dựng đề án tạo việc làm gắn với nông thôn mới.
  • Các tổ chức tín dụng an sinh và Ngân hàng Chính sách xã hội: Cung cấp cơ sở định lượng từ 90 hộ điều tra để phân bổ nguồn vốn vay giải quyết việc làm và chương trình xuất khẩu lao động hiệu quả hơn.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế học: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp điều tra phân tầng sinh thái nông nghiệp và ứng dụng khung lý thuyết Toshima, Lewis vào phân tích thị trường lao động nông thôn bán sơn địa.
  • Chủ doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất làng nghề: Hỗ trợ nắm bắt đặc điểm chất lượng của hơn 151.000 lao động địa phương để tối ưu hóa chiến lược tuyển dụng và đào tạo nhân lực tại chỗ.

Câu hỏi thường gặp

Đặc điểm nổi bật nhất về tình trạng việc làm tại huyện Ba Vì giai đoạn 2017 - 2019 là gì? Quy mô lực lượng lao động đạt 170.601 người năm 2019, trong đó số người có việc làm đạt 151.712 người (tăng trưởng bình quân 102,53%/năm). Điểm sáng lớn nhất là tỷ lệ thất nghiệp hoàn toàn duy trì ở mức rất thấp, chỉ từ 0,4% đến 0,5%.

Yếu tố nào đóng vai trò quyết định giúp tỷ lệ bán thất nghiệp giảm từ 11% xuống 8%? Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực dịch vụ - du lịch (chiếm 41,2% giá trị sản xuất) kết hợp đẩy mạnh mở rộng các làng nghề và tiểu thủ công nghiệp đã tạo ra bình quân 3.800 việc làm mới mỗi năm, tận dụng hiệu quả thời gian nông nhàn của nông dân.

Chương trình dạy nghề theo Quyết định 1956/QĐ-TTg đạt kết quả ra sao tại Ba Vì? Giai đoạn 2016 - 2019, huyện đã tổ chức 214 lớp đào tạo nghề cho 7.452 học viên nông thôn. Các ngành nghề đào tạo như may công nghiệp, thú y và cây ăn quả giúp lao động có việc làm ổn định, nâng thu nhập bình quân lên 30,1 triệu đồng.

Khung phương pháp nghiên cứu của đề tài đảm bảo tính đại diện khoa học như thế nào? Nghiên cứu khảo sát 90 hộ gia đình tại 3 xã tiêu biểu đại diện cho 3 tiểu vùng sinh thái của huyện (Vạn Thắng đại diện vùng Bắc, Ba Vì đại diện vùng Tây, Khánh Thượng đại diện vùng Nam), kết hợp phân tích chuỗi thời gian 2017 - 2019 và ma trận SWOT.

Thách thức lớn nhất trong công tác giải quyết việc làm tại Ba Vì hiện nay là gì? Rào cản lớn nhất là 80% lao động trẻ chưa có bằng cấp chuyên môn kỹ thuật, dẫn đến khoảng 30% lao động phải di chuyển làm ăn xa gia đình nhiều tháng trong năm, kèm theo áp lực ô nhiễm môi trường làng nghề chưa được xử lý triệt để.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý thuyết việc làm trong nông nghiệp lúa nước và các mô hình chuyển dịch lao động hai khu vực trong bối cảnh công nghiệp hóa.
  • Phản ánh trung thực thực trạng lao động huyện Ba Vì giai đoạn 2017 - 2019 với 151.712 người có việc làm, tỷ lệ bán thất nghiệp hạ nhanh từ 11% xuống 8% và giá trị sản xuất đạt 27.120 tỷ đồng.
  • Cung cấp dẫn chứng thực địa từ 90 hộ dân tại 3 tiểu vùng sinh thái, khẳng định đóng góp của 214 lớp đào tạo nghề cho 7.452 lao động địa phương.
  • Định hình 4 nhóm giải pháp trọng tâm cho giai đoạn 2020 - 2025 với mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên trên 45% và giải ngân 25 - 30 tỷ đồng vốn vay an sinh mỗi năm.
  • Các nhà hoạch định chính sách địa phương và cơ sở đào tạo nghề cần nhanh chóng ứng dụng khung giải pháp của đề tài vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm nhằm xây dựng thị trường lao động bền vững.