Phần mở đầu: Trình bày các vấn đề tổng quan về đề tài nghiên cứu giải pháp trụ đất xi măng kết hợp với vải địa kỹ thuật gia cố nền đất yếu đường dẫn vào cầu như: Tính cấp thiết, mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu. Tổng quan: Nghiên cứu tổng quan về các nguyên nhân cơ bản gây ra độ lún lệch đường dẫn vào cầu; Cấu tạo của giải pháp gia cố nền đất yếu dưới nền đường đầu cầu bằng trụ đất xi măng kết hợp với vải địa kỹ thuật; Chương này cũng trình bày về các cách thức bố trí cấu tạo của giải pháp gia cố nền đất yếu dưới nền đường đầu cầu bằng trụ đất xi măng kết hợp với vải địa kỹ thuật. Cơ sở lý thuyết tính toán gia cố nền đất yếu dưới nền đường đầu cầu bằng trụ đất xi măng kết hợp với vải địa kỹ thuật: Tổng kết các các giả thuyết tính toán và nguyên lý thiết kế; phương pháp tính toán gia cố nền đất yếu dưới nền đường đầu cầu bằng trụ đất xi măng kết hợp với vải địa kỹ thuật của các tác giả trong và ngoài nước. Học viên đi sâu nghiên cứu các lý thuyết kiểm tra ổn định và các trạng thái giới hạn sử dụng.
Nghiên cứu ứng dụng tính toán cho công trình thực tế: Mô hình tính toán có mặt cắt ngang nền đất yếu dưới nền đường đầu cầu ở huyện Tân Phú Đông. Sử dụng phần mềm Plaxis để kiểm tra ổn định và biến dạng trong nền cho 2 trường hợp: Trường hợp nền đất chưa có giải pháp gia cố và trường hợp nền đất được gia cố bằng hệ trụ đất xi măng. Các kết quả tính toán và mô phỏng được phân tích và so sánh với nhau. Phần kết luận và kiến nghị: Trình bày các kết quả và kiến nghị của nghiên cứu.
TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ LÚN ĐƯỜNG DẪN VÀO CẦU TRÊN NỀN ĐẤT YẾU 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến nền đường dẫn vào cầu trên đất yếu Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra, hiện tượng xe bị nảy lên ở vị trí đầu cầu sẽ được nhận thấy khi độ lún lệch khoảng 1,3 cm và trở thành vấn đề khi độ lún này khoảng 2,5 cm, và có thể khá nghiêm trọng gây mất êm thuận khi độ lún lệch khoảng từ 5 cm ÷ 10 cm. Briaud (1997) chỉ ra rằng ít nhất 25 % (150.000) trong tổng số 600.000 cầu ở Mỹ bị ảnh hưởng bởi độ lún lệch đầu cầu. Chi phí để sửa chữa hiện tượng này 60 ÷ 187 triệu đô la với chi phí trung bình khoảng 100 triệu đôla/ 1 năm.
Đầu tiên, người ta nghĩ rằng lún lệch đầu cầu là một vấn đề khá đơn giản có thể giải quyết được bằng việc cải tiến việc đầm chặt đất đắp sau mố. Tuy nghiên, sau đó nhiều nghiên cứu nhận thấy đây là một vấn đề phức tạp do sự tương tác giữa đất và kết cấu có nhiều biến đổi. Nghiên cứu đầu tiên đề cập đến độ lún lệch này được thực hiện tại Mỹ vào năm 1969. Nhưng gần 20 năm sau (1985), người ta chỉ ra rằng đây vẫn là một vấn đề chưa giải quyết được.
Cho đến nay, rất nhiều nghiên cứu do Hiệp hội Đường bộ Mỹ tài trợ đã xác định được nguyên nhân của lún lệch đầu cầu, sau đây là 5 nhóm nguyên nhân chính bao gồm: - Mặt đường ở vị trí bản quá độ thi công kém. - Loại mố cầu và loại móng cầu. - Độ lún của nền đường. - Độ lún của nền đất bên dưới.
- Thoát nước kém. Một loạt các nguyên nhân được tổng hợp chi tiết như Bảng 1.1 Nguyên nhân gây độ lún đường dẫn đầu cầu Nhóm Nguyên nhân Biến dạng của mặt đường mềm làm cho mặt A đường bị vỡ, bị hằn Mặt đường ở vị trí bản quá Phá hoại của mặt đường bê tông xi măng: nứt độ thi công kém B ngang, phá hoại tại vị trí liên kết C Vị trí không phù hợp với cấp đường A Đỉnh mố thi công kém Do tải trọng động của xe tác dụng vào mố cầu B gây chuyển vị ngang của mố cầu và tăng tải áp lực ngang của nền đất Loại mố cầu và móng cầu Chuyển vị thẳng đứng của móng (móng nông C và móng sâu) trong quan hệ với độ cứng của nền đường D Thiết kế mố cầu hay tường cánh không đúng. Quá trình đầm chặt nền đường không Thích hợp do không gian hạn chế, thiết bị thi công A không chuẩn, thiếu sự giám sát của nhà thầu, loại đất, hay chiều dày đầm chặt. Thể tích thay đổi của đất đắp do sự thay đổi Chuyển vị thẳng đứng và B nhiệt độ và thoát nước (đất sạc lở và trương chuyển vị ngang của đất đắp nở).
Quá trình cố kết sau khi xây dựng của đất C dính do trọng lượng nền đường đắp, tải trọng xe cộ, và trọng lượng của lớp át phan. D Phá hoại của đất dưới chân của bản quá độ. Nền đất yếu bị ép ngang do ứng suất thẳng A đứng (tải trọng nền đường). Chuyển vị thẳng đứng và Lún cố kết (sơ cấp và thứ cấp) của lớp đất bụi, chuyển vị ngang của đất B sét, hữu cơ do ứng suất thẳng đứng.
dưới nền đường Mất ổn định mái dốc do sức chịu tải của đất C nhỏ. Xói mòn của mái dốc tại vị trí mố cầu gây dịch chuyển cục bộ đất đắp sau và trước mố cầu. Đồng thời, làm cho các hạt mịn của các A Thoát nước kém lớp vật liệu thô bị mất đi dẫn đến dịch chuyển của đất đắp theo sự di chuyển thành phần hạt mịn. B Mất ổn định mái dốc tại mố cầu do mực nước 6 tĩnh tăng lên Các lớp thoát nước của bê tông mặt đường C kém dẫn đến gây phá hoại mặt đường bê tông và nứt ở mặt đường nhựa.
D Gối sàn quá độ thi công kém.1 Sơ họa các nguyên nhân gây độ lún đường dẫn đầu cầu Trong đó: A, B, C, D là nguyên nhân cụ thể dẫn đến độ lún, được chỉ ra Đường dẫn vào cầu đắp trên đất yếu là hiện tượng phổ biến, không chỉ riêng tại Việt Nam mà ngay cả các quốc gia phát triển. Điểm khác biệt là tại các công trình cầu ở Việt Nam độ lún lệch giữa cầu và đường có quy mô lớn hơn, thời điểm bắt đầu xảy ra hiện tượng lún lệch cũng sớm hơn. Nguyên nhân gây ra độ lún lệch 1. Mặt đường ở vị trí bản quá độ thi công kém Chất lượng của lớp mặt đường trên bản quá độ ảnh hưởng bởi thiết kế cấp phối trộn, các nhân tố môi trường, chất lượng vật liệu và quá trình xây dựng.
Chất lượng của lớp bê tông mặt đường không phải là nguyên nhân quan trọng nhất của độ lún lệch, tuy nhiên nó có thể ảnh hưởng đến độ lún tổng thể. Biến dạng của mặt đường mềm là do mặt đường mềm bị biến dạng dẻo theo thời gian và lớp át phan là một vật liệu biến dạng dẻo tùy thuộc vào nhiệt độ, tuổi thọ, thoát nước và lớp áo đường. Các độ lún này làm cho đường bị vỡ, bị hằn. Loại mố cầu và loại móng chống đỡ Loại mố cầu và loại móng chống đỡ ảnh hưởng đến chuyển vị thẳng đứng và chuyển vị ngang giữa mố cầu và lớp mặt đường tại bản quá độ.1 Loại mố cầu Mố cầu có thể phân chia thành các loại mố như mố đóng, mố sơ khai và mố dạng tràn qua: - Mố dạng đóng là mố giữ lại toàn bộ chiều cao của nền đường giữa phần cầu và tĩnh không bên dưới.
Mố dạng đóng được thi công trước khi thi công nền đường, chi phí thường đắt hơn so với các loại mố khác. - Mố dạng sơ khai hay mố dạng tràn qua là mố có một phần chiều cao giữ lại một phần của nền đường và có tứ nón. Mố sơ khai được xây dựng ngay sau khi xây dựng nền đường. Loại mố này sẽ rẻ hơn so với mố dạng đóng do áp lực đất theo phương ngang sau mố sẽ giảm đi.
- Mố dạng tràn qua bao gồm các trụ kéo dài từ cầu đến móng tại phần phân tách. Một mái dốc được đặt vào từ đỉnh của nền đường qua các trụ đến đáy của nền đường. Mố dạng tràn qua được xây dựng từ khi xây dựng nền đường và có áp lực đất nhỏ hơn so với mố dạng đóng. 8 Các loại mố trên cũng có thể phân chia thành mố không liên tục, mố bán liên tục và mố liên tục: - Mố không liên tục có các khe co giãn giữa bản mặt cầu, mố và bản quá độ (nếu có).
Khe co giãn cho phép cầu chuyển vị tương đối với mố. Cần phải duy trì sự làm việc của khe co giãn, tuy nhiên nếu có rác tích tụ vào khe co giãn thì cầu sẽ không được cho phép giãn. - Mố liên tục đối lập với mố không liên tục, bởi vì chúng không có khe co giãn. Bản mặt cầu, mố cầu, bản quá độ (nếu có) được liên kết chặt vào với nhau.
Các mố này thường khá hiệu quả trong quá trình xây dựng và bảo dưỡng. Tuy nhiên, mố và cầu được liên kết với nhau, xảy ra hiện tượng dịch chuyển ngang của mố do sự thay đổi nhiệt độ gây ra. Do sự chênh lệch nhiệt độ giữa mùa đông và mùa hè dẫn đến kết quả sự co lại và giãn nở của bê tông có thể làm kết cấu bị phá hoại… - Mố bán liên tục là loại trung gian giữa 2 loại mố liên tục và mố không liên tục.2 Loại móng chống đỡ cho cầu Loại móng chống đỡ cho mố cầu có thể phân chia ra làm móng nông và móng sâu. Móng nông bao gồm các loại móng bê tông được đặt trực tiếp lên trên đất hoặc đá.
Phụ thuộc vào loại mố cầu, cao độ của móng có thể đặt trong nền đường đắp (mố sơ khai) hoặc trên nền đất, đá (móng dạng đóng và dạng tràn qua). Tải trọng, mô men từ mố và từ cầu được truyền và phân bố qua móng nông. Áp lực đáy móng phải được kiểm soát với sức chịu tải của nền đất bên dưới. Nếu sức kháng cắt của đất và đá nhỏ hơn thì sự phá hoại cắt làm phá hoại đột ngột.
Nếu áp lực đáy móng nhỏ hơn sức chịu tải cho phép, phá hoại đột ngột không xảy ra, tuy nhiên, có thể có độ lún. Độ lún của lớp đất bên dưới được dự tính và sau đó so sánh với chuyển vị tương đối của mố được phép xảy ra trước khi cầu bị phá hoại. Độ lún gồm 3 loại, lún tức thời, lún cố kết sơ cấp và lún cố kết thứ cấp.