phần mở đầu và kết luận, đề tài đƣợc kết cấu gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về tỷ giá hối đoái, chính sách tỷ giá và điều hành chính sách tỷ giá. Chƣơng 2: Thực trạng điều hành chính sách tỷ giá của Việt Nam trong thời gian qua. Chƣơng 3: Giải pháp điều hành chính sách tỷ giá của Việt Nam đến năm 2015. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI, CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ 1.
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1. Khái niệm về tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là mức giá mà tại đó hai đồng tiền có thể chuyển đổi với nhau. Về hình thức, tỷ giá hối đoái là hệ số quy đổi của đồng tiền này sang đồng tiền khác, được xác định bởi mối quan hệ cung – cầu ngoại hối trên thị trường. Về nội dung, tỷ giá hối đoái bắt nguồn từ hoạt động thương mại giữa các nước.
Phân loại tỷ giá hối đoái Căn cứ vào hai tiêu chí sau đây để phân loại tỷ giá: Căn cứ vào chính sách tỷ giá Tỷ giá chính thức Tỷ giá chính thức là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ. Tỷ giá chính thức được áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu và các hoạt động khác liên quan đến tỷ giá chính thức. Ở Việt Nam, tỷ giá chính thức còn là cơ sở để các NHTM xác định tỷ giá kinh doanh trong biên độ cho phép. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Tỷ giá chợ đen Tỷ giá chợ đen là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng, do cung cầu trên thị trường tự do quyết định.
Tỷ giá cố định Tỷ giá cố định là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ giao động hẹp. Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì tỷ giá cố định, NHTW phải thường xuyên can thiệp, do đó làm cho dự trữ ngoại hối quốc gia thay đổi. Tỷ giá thả nổi hoàn toàn Tỷ giá thả nổi hoàn toàn là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu trên thị trường, NHTW không hề can thiệp. Tỷ giá thả nổi có điều tiết Tỷ giá thả nổi có điều tiết là tỷ giá được thả nổi nhưng NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế.
Căn cứ vào mức độ ảnh hƣởng đến cán cân thanh toán quốc tế Tỷ giá danh nghĩa song phương Tỷ giá danh nghĩa song phương (Nominal Bilateral Exchange Rate – NER) là tỷ lệ trao đổi số lượng tuyệt đối giữa hai đồng tiền, nó chưa đề cập tới tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ. Do đó, khi tỷ giá danh nghĩa thay đổi, ta chưa thể biết được hướng tác động của nó đến thương mại quốc tế giữa các nước là như thế nào. Tỷ giá danh nghĩa song phương được niêm yết công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc tại các tổ chức kinh doanh tiền tệ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Tỷ giá thực song phương Tỷ giá thực song phương (Real Bilateral Exchange Rate – RER) đo lường giá cả tương quan của hàng hóa giữa hai quốc gia.
Do đó, nó là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ. Tỷ giá thực được xác định bằng công thức sau: Pj = _ e*(i/j) e(i/j) x Pi Trong đó: • e*(i/j ) : Tỷ giá thực; với j là đồng yết giá, i là đồng định giá; • e(i/j) : Tỷ giá danh nghĩa của đồng tiền i và j; • Pj : Giá hàng hóa tại nước phát hành đồng tiền j; • Pi : Giá hàng hóa tại nước phát hành đồng tiền i. Trong nền kinh tế, tỷ giá thực có thể được sử dụng để phân tích khả năng cạnh tranh trong thương mại quốc tế giữa các quốc gia. Tỷ giá danh nghĩa đa phương Tỷ giá danh nghĩa đa phương (Nominal Effective Exchange Rate – NEER) là chỉ số tỷ giá trung bình của một đồng tiền so với các đồng tiền còn lại.
Về mặt thuật ngữ, NEER còn được gọi là tỷ giá danh nghĩa trung bình hay tỷ giá đa biên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Trong thực tế, NEER được tính theo công thức: n NEERi = ∑ eij * wj j=1 Trong đó: e(i/j) là chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương; w là tỷ trọng của tỷ giá song phương; j là số thứ tự của các tỷ giá song phương; i là kỳ tính toán. Về thực chất, NEER không phải là tỷ giá mà là chỉ số: * Nếu NEER > 1: Nội tệ giảm giá so với các đồng tiền còn lại. * Nếu NEER < 1: Nội tệ lên giá so với các đồng tiền còn lại.
NEER chưa đề cập tới tương quan sức mua của các đồng tiền. Để khắc phục hạn chế này và để quan sát tác động của tỷ giá của một nước đến thương mại quốc tế với tất cả các nước còn lại, người ta đa sử dụng tỷ giá thực đa phương. Tỷ giá thực đa phương Tỷ giá thực đa phương (Real Effective Exchange Rate – REER) bằng tỷ giá danh nghĩa đa phương đã được điều chỉnh tỷ lệ lạm phát ở trong nước với tất cả các nước còn lại. Do đó, nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại.
REER được tính toán theo công thức: CPIiw REER = NEERi * CPIivn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 n Với CPIiw = ∑ CPIij * GDPj j=1 Trong đó: CPIiw là chỉ số giá tiêu dùng trung bình của tất cả các đồng tiền trong rổ; CPIivn là chỉ số giá tiêu dùng của nội tệ; j là số thứ tự của các đồng tiền trong rổ; i là kỳ tính toán. REER là thước đo tổng hợp vị thế cạnh tranh thương mại của một nước so với tất cả các nước bạn hàng còn lại. Vì vậy, hiện nay hầu hết các nước đều tính toán và công bố chỉ tiêu này. Trạng thái tĩnh và trạng thái động của tỷ giá thực đa phƣơng: * Trạng thái tĩnh: So sánh REER với 100 tại một thời điểm nhất định.
REER > 100: Vị thế cạnh tranh của quốc gia là cao hơn nước bạn hàng. REER < 100: Vị thế cạnh tranh của quốc gia là thấp hơn nước bạn hàng. REER = 100: Vị thế cạnh tranh của hai quốc gia là như nhau. * Trạng thái động: là việc xem xét tỷ giá thực tăng lên hay giảm xuống từ thời kỳ này sang thời kỳ khác.
Nếu REER tăng lên, điều này nói lên rằng sức cạnh tranh của quốc gia được cải thiện. Nếu REER giảm, sức cạnh tranh của quốc gia bị suy giảm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1.
Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái Là một công cụ của chính sách tiền tệ, mục tiêu của chính sách tỷ giá được quyết định bởi mục tiêu của chính sách tiền tệ. Theo đó, mục tiêu của chính sách tỷ giá được cụ thể hóa như sau: Chính sách tỷ giá phải hỗ trợ các hoạt động kinh tế đối ngoại, góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc gia trong từng thời kỳ. Chính sách tỷ giá cần phối hợp hài hòa với các chính sách tiền tệ khác nhằm góp phần ổn định giá trị tiền tệ, kiểm soát lạm phát, và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chính sách tỷ giá nâng cao khả năng chuyển đổi của bản tệ và đẩy nhanh tiến trình liên kết quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ của quốc gia.
Phân loại chính sách tỷ giá Chính sách tỷ giá cố định Chính sách tỷ giá hối đoái cố định là một kiểu chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ tiền tệ, hay với một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn. Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng nội tệ cũng tăng hoặc giảm. Chính phủ sẽ cố gắng neo tỷ giá ở một giá trị nhất định nhằm ổn định thị trường, tránh những biến động bất ngờ gây khó khăn cho nền kinh tế. Khi cầu ngoại tệ tăng từ D đến D’ làm tỷ giá hối đoái tăng từ e0 đến e1, NHTW sẽ bán ra ngoại tệ từ quỹ dự trữ ngoại hối làm tăng cung ngoại tệ từ S đến S’ và tỷ giá được kéo giảm trở lại tại điểm e’, mức cung sẽ dừng lại khi NHTW đạt được mục tiêu đã định.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Can thiệp của NHTW trong chính sách tỷ giá cố định Tỷ Giá S S’ e1 e’ e0 D’ D Lượng ngoại tệ Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2011), Giáo trình tài chính quốc tế. Hà Nội: NXB Thống kê Cơ chế này đòi hỏi dự trữ ngoại hối của NHTW phải đủ mạnh để có thể can thiệp hiệu quả khi có sự biến động tỷ giá. Ưu điểm của chế độ tỷ giá cố định là các quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá này có thể thu hút được một lượng vốn nước ngoài dồi dào do các nhà đầu tư quốc tế ít lo ngại về rủi ro tỷ giá. Tỷ giá ổn định cũng góp phần đáng kể trong việc đẩy mạnh sản xuất, kích thích ngoại thương phát triển, bình ổn giá cả,.
Đối với các quốc gia nhỏ hoặc các nước có nền kinh tế non yếu, Chính phủ của họ có thể tìm được một điểm tựa vững vàng về tiền tệ, kinh tế, và thậm chí về chính trị từ nước có đồng tiền được chọn làm điểm neo tỷ giá. Trong một số trường hợp nhất định, đặc điểm này có thể trở thành ưu tiên bậc nhất trong việc lựa chọn chế độ tỷ giá của các quốc gia. Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, chính sách tỷ giá cố định cũng có những nhược điểm cố định: (1) Trước hết là sự mất tự chủ về tiền tệ. Chính sách tiền tệ của nước có đồng tiền gắn kết với ngoại tệ mạnh sẽ phụ thuộc một phần hoặc toàn bộ vào chính sách tiền tệ của quốc gia có đồng tiền mạnh.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 (2) Nguồn dự trữ ngoại hối của quốc gia phải dồi dào. Với các nước có nguồn dự trữ hạn hẹp, Chính phủ của họ sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc ổn định giá trị bản tệ khi thị trường ngoại hối biến động. (3) Chính sách tỷ giá cố định cũng được cho là quá cứng nhắc vì đã che khuất nội tệ.