Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu mặt hàng Mắc ca của Tổng công ty cổ phần đầu tư và phát triển Macadamia Quốc Tế sang thị trường Liên Bang Nga. Ngành kinh doanh hạt Mắc ca được xác định là hướng đi mới đối với ngành nông sản Việt Nam, giữ vai trò quan trọng trong việc thu ngoại tệ và giải quyết việc làm cho lao động trong nước. Giai đoạn từ năm 2014 trở đi ghi nhận sự tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu Mắc ca của Việt Nam. Dẫn số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tác giả cho biết trong 8 tháng đầu năm 2018, cả nước xuất khẩu trên 120 nghìn tấn Mắc ca; mặc dù khối lượng giảm 17% nhưng kim ngạch tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2017. Trong cơ cấu thị trường, các nước khối EU chiếm 43% tổng lượng và 42% tổng kim ngạch xuất khẩu Mắc ca của Việt Nam.
Đối với thị trường Liên Bang Nga, hoạt động xuất khẩu nông sản nói chung và Mắc ca nói riêng của Việt Nam đã diễn ra trong nhiều năm nhưng quy mô vẫn còn khiêm tốn. Tổng công ty cổ phần đầu tư và phát triển Macadamia Quốc Tế (IDMA) xác định Liên Bang Nga là một trong những thị trường xuất khẩu trọng điểm. Tuy nhiên, kết quả xuất khẩu của doanh nghiệp sang thị trường này chưa tương xứng với dung lượng và nhu cầu tiêu thụ thực tế. Doanh nghiệp đối mặt với nhiều khó khăn nội tại và ngoại cảnh như: thiếu hụt nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất, năng lực chế biến còn yếu, thiếu vốn kinh doanh, cùng áp lực cạnh tranh trực tiếp từ các doanh nghiệp cùng ngành của Trung Quốc và Đài Loan.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được cụ thể hóa qua hai câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng xuất khẩu mặt hàng Mắc ca của Công ty vào thị trường Liên Bang Nga diễn ra như thế nào?
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc xuất khẩu mặt hàng Mắc ca của Công ty vào thị trường Liên Bang Nga?
Để trả lời hai câu hỏi trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về hoạt động xuất khẩu Mắc ca của Tổng công ty cổ phần đầu tư và phát triển Macadamia Quốc Tế sang thị trường Liên Bang Nga.
- Tìm hiểu bối cảnh kinh tế và đặc điểm thị trường Liên Bang Nga.
- Đánh giá tổng quát thực trạng xuất khẩu sản phẩm Mắc ca của Tổng công ty sang thị trường Liên Bang Nga trong giai đoạn nghiên cứu.
- Xây dựng các nhóm giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm Mắc ca của Công ty sang Liên Bang Nga, đồng thời đề xuất kiến nghị đối với Nhà nước, Hiệp hội Mắc ca và các doanh nghiệp liên quan.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu các sản phẩm Mắc ca của Tổng công ty cổ phần đầu tư và phát triển Macadamia Quốc Tế sang thị trường Liên Bang Nga.
- Phạm vi không gian: Hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu sản phẩm Mắc ca thuộc hệ thống của Tổng công ty cổ phần đầu tư và phát triển Macadamia Quốc Tế.
- Phạm vi thời gian: Số liệu hoạt động xuất khẩu và thị trường được thu thập, phân tích chủ yếu trong giai đoạn 2014 – 2018; số liệu tài chính doanh nghiệp tập trung giai đoạn 2016 – 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, khóa luận hệ thống hóa các khái niệm và khung pháp lý thương mại quốc tế. Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu được trích dẫn theo Điều 28, Mục 1, Chương 2 của Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, xác định bản chất xuất khẩu là hành vi bán hàng hóa ra nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Khóa luận sử dụng hệ thống lý luận của các học giả trong nước gồm:
- Phân loại hình thức xuất khẩu của Vũ Huy Đại (2005): Xuất khẩu trực tiếp (qua đại diện bán hàng, đại lý phân phối) và xuất khẩu gián tiếp (qua đại lý, công ty quản lý xuất khẩu, công ty kinh doanh xuất khẩu, đại lý vận tải).
- Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế thế giới, kinh tế quốc dân và doanh nghiệp theo nghiên cứu của Võ Thanh Thu (2006) và Nguyễn Cương (2016).
- Khung chính sách thương mại và quản lý nhà nước: Luật thuế Xuất nhập khẩu ngày 26/12/1991, các cam kết cắt giảm thuế quan theo Hiệp định CEPT/AFTA, khuôn khổ GATT, WTO; chính sách hoàn thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng (VAT); chính sách tín dụng từ Quỹ hỗ trợ xuất khẩu thành lập theo Quyết định số 195/2000/QĐ-TTg; chính sách điều hành tỷ giá hối đoái VND/USD của Ngân hàng Nhà nước.
- Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp:
- Kim ngạch xuất khẩu trên tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ = Kim ngạch xuất khẩu trong kỳ / Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ.
- Kim ngạch xuất khẩu trên một đồng vốn sản xuất = Kim ngạch xuất khẩu trong kỳ / Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ.
Về đặc tính hàng hóa nông sản, văn bản trích dẫn các tài liệu khảo nghiệm của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam: Cây Mắc ca được theo dõi tại miền Bắc từ năm 2000 và đưa vào trồng tại Tây Nguyên từ năm 2010 với gần 10 giống khác nhau. Chu kỳ sinh trưởng từ khi trồng đến thu hoạch mất khoảng 5–6 năm. Tỷ lệ nhân chiếm 30–50% trọng lượng hạt; hàm lượng chất béo trong nhân đạt 71–80% (trong đó axit béo chưa bão hòa chiếm 84%; dầu hạt Mắc ca chứa trên 87% axit béo không no, 22% axit omega-7 palmitoleic, chứa arginine và protein đạt 9,2% gồm 20 loại axit amin).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả áp dụng bao gồm:
- Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng kỹ thuật lập bảng biểu, phân tích số liệu thứ cấp, so sánh ngang và so sánh chéo để xác định quy mô, tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng cơ cấu hàng hóa, thị trường và nhân sự.
- Công cụ xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý các bảng số liệu xuất nhập khẩu, doanh thu, chi phí và cơ cấu lao động.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ niên giám và báo cáo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Hải quan Liên Bang Nga, dữ liệu tăng trưởng kinh tế từ World Bank (2018); dữ liệu sơ cấp và nội bộ được thu thập trực tiếp từ Phòng Kinh doanh, Phòng Xuất nhập khẩu và Phòng Hành chính nhân sự của Tổng công ty cổ phần đầu tư và phát triển Macadamia Quốc Tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Liên Bang Nga
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ khung lý luận về ngoại thương và đặc tính của sản phẩm Mắc ca xuất khẩu. Tác giả làm rõ hai hình thức thâm nhập thị trường quốc tế là xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp, phân tích rõ quyền hạn, trách nhiệm pháp lý và cơ chế hưởng thù lao của từng chủ thể trung gian như đại lý phân phối, công ty quản lý xuất khẩu và đại lý vận tải giao nhận.
Khóa luận phân tích các nhóm nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa theo hai môi trường:
- Môi trường trong nước: Chất lượng sản phẩm, giá bán, công nghệ chế biến, quy hoạch vùng nguyên liệu và cơ sở hạ tầng giao thông; hệ thống chính sách vĩ mô gồm chính sách thuế (thuế xuất khẩu 0%, thuế nhập khẩu, hoàn thuế VAT), chính sách tín dụng ngân hàng thương mại và hỗ trợ vốn ưu đãi từ Quỹ hỗ trợ xuất khẩu; cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái; hệ thống dịch vụ phân phối và chất lượng của đội ngũ nhân sự quản lý, lao động kỹ thuật.
- Môi trường ngoài nước: Quy mô và nhu cầu nhập khẩu của thị trường nước ngoài; xu hướng tiêu dùng và sở thích sản phẩm; các rào cản kỹ thuật và chính sách bảo hộ thương mại của chính phủ nước nhập khẩu.
Bên cạnh đó, chương này phân tích các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của doanh nghiệp xuất khẩu dựa trên doanh số và chi phí, làm rõ các giá trị dinh dưỡng, công dụng y học, bảo vệ tim mạch, hỗ trợ giảm cân, chống lão hóa của hạt Mắc ca làm căn cứ cho việc khai thác thị trường.
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu Mắc ca của Tổng công ty cổ phần đầu tư và phát triển Macadamia Quốc Tế sang Liên Bang Nga
Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về doanh nghiệp, môi trường thị trường Liên Bang Nga và thực trạng xuất khẩu của IDMA trong giai đoạn 2014 – 2018.
1. Khái quát về Tổng công ty (IDMA):
Doanh nghiệp thành lập ngày 25/3/2010, hoạt động theo mô hình công ty cổ phần tuân thủ Luật Doanh nghiệp 2005 (Điều lệ sửa đổi ngày 24/03/2011). Bộ máy quản trị gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban Giám đốc và các phòng chuyên môn (Nhân chính, Tài chính kế toán, Kinh doanh, Vật tư, Thiết bị, Kỹ thuật chất lượng, các Đội sản xuất). Hoạt động tập trung vào 5 lĩnh vực: nghiên cứu sản xuất giống tại Tây Bắc và Tây Nguyên; tạo vùng nguyên liệu; thu mua sơ chế; xây dựng nhà máy chế biến; phát triển thương hiệu.
Bảng: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của IDMA (2016 – 2018)
(Đơn vị: Triệu đồng)
| Chỉ tiêu |
Năm 2016 |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
So sánh 2017/2016 (%) |
So sánh 2018/2017 (%) |
| Doanh thu bán hàng và cung cấp DV |
346.268 |
364.844 |
324.282 |
+5,36% |
-11,12% |
| Giá vốn hàng bán |
- |
320.612 |
- |
- |
-8,70% |
| Chi phí bán hàng |
1.820 |
1.946 |
1.986 |
+7,62% |
+2,25% |
| Chi phí quản lý doanh nghiệp |
5.076 |
- |
- |
+7,13% |
- |
| LN thuần từ hoạt động kinh doanh |
11.623 |
4.747 |
9.091 |
-59,16% |
+91,51% |
| Lợi nhuận kế toán trước thuế |
- |
7.360 |
- |
-48,25% |
- |
2. Bối cảnh thị trường Liên Bang Nga:
Kinh tế Nga giai đoạn 2011 – 2018 có tốc độ tăng trưởng GDP trung bình trên 8%/năm theo báo cáo của World Bank (2018): quy mô GDP đạt 1,9 nghìn tỷ USD (2011), tăng lên 2,5 nghìn tỷ USD (2014), 3,1 nghìn tỷ USD (2017) và đạt 3,5 nghìn tỷ USD (2018). Cơ cấu kinh tế năm 2001 gồm dịch vụ chiếm 55,9%, công nghiệp 37,3%, nông nghiệp 6,8%.
Về tiêu thụ Mắc ca, người dân Nga tiêu thụ bình quân 0,24 kg/người/năm (tổng tiêu thụ đạt 25,5 nghìn tấn). Đến năm 2018, tiêu thụ bình quân đạt 1,55 kg/người (tăng so với mức 0,4 kg/người năm 2011), dù vẫn thấp hơn mức 6,2 – 12 kg/người/năm của các nước châu Âu phát triển. Do không trồng được Mắc ca, Nga phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Tổng nhập khẩu Mắc ca của Nga năm 2016 đạt 171,5 nghìn tấn (trị giá 516,5 triệu USD, tăng 9,5% về khối lượng); năm 2017 đạt 189,6 nghìn tấn (trị giá 639 triệu USD, tăng 10,5% về khối lượng và 23,74% về giá trị); năm 2018 tăng thêm 9,13 nghìn tấn (tăng 4,82%), giá trị đạt khoảng 688,25 triệu USD (tăng 7,69%).
Bảng: Giá trị xuất khẩu Mắc ca của các quốc gia vào Liên Bang Nga (2014 – 2018)
(Nguồn: Hải quan Nga, 2018 - Đơn vị: Triệu USD)
| Quốc gia |
Năm 2014 |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
| Australia |
9,21 |
11,97 |
13,95 |
17,94 |
20,97 |
| Brazil |
4,12 |
5,20 |
6,16 |
7,71 |
8,40 |
| Việt Nam |
3,01 |
3,65 |
4,24 |
5,37 |
6,15 |
| Thụy Sĩ |
2,18 |
2,12 |
2,65 |
3,07 |
2,89 |
| Ấn Độ |
1,94 |
1,65 |
1,86 |
2,17 |
2,66 |
| Italia |
1,53 |
1,18 |
1,41 |
1,83 |
2,06 |
| Colombia |
1,75 |
1,84 |
1,48 |
1,75 |
1,61 |
| Khác |
2,18 |
3,55 |
2,69 |
2,77 |
1,15 |
Australia, Brazil và Việt Nam là ba nguồn cung lớn nhất, chiếm trên 70% thị phần nhập khẩu Mắc ca của Nga. Khối lượng Mắc ca Việt Nam xuất sang Nga tăng trưởng trên 15%/năm: năm 2015 đạt 3,42 nghìn tấn; năm 2017 đạt 3,98 nghìn tấn; năm 2018 tăng thêm 0,87 nghìn tấn lên 4,85 nghìn tấn.
3. Thực trạng xuất khẩu của IDMA sang Nga:
Khối lượng xuất khẩu của IDMA tăng trưởng bình quân trên 11%/năm, giá trị xuất khẩu tăng bình quân trên 15%/năm.
Bảng: Chủng loại sản phẩm Mắc ca xuất khẩu của IDMA sang Nga (2014 – 2018)
(Nguồn: Phòng Kinh doanh - Đơn vị: Nghìn tấn)
| Chủng loại mặt hàng |
Năm 2014 |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
| Mắc ca chưa chế biến (nguyên liệu) |
0,62 |
0,86 |
0,83 |
1,26 |
1,32 |
| Mắc ca hạt |
0,12 |
0,14 |
0,27 |
0,35 |
0,36 |
| Mắc ca nhân |
0,08 |
0,11 |
0,12 |
0,14 |
0,13 |
| Tổng cộng |
0,82 |
1,11 |
1,22 |
1,75 |
1,81 |
Về giá trị kim ngạch, IDMA đạt 278,2 nghìn USD năm 2014; tăng lên 388,2 nghìn USD năm 2015 (+39,65%); đạt 427,0 nghìn USD năm 2016 (+9,99%); đạt 612,5 nghìn USD năm 2017 (+43,34%) và đạt 634,7 nghìn USD năm 2018 (+3,26%). Cơ cấu mặt hàng còn bất cập lớn khi sản phẩm thô chưa chế biến chiếm tỷ trọng áp đảo (75,6% năm 2014 và 72,9% năm 2018). Mắc ca hạt chiếm 19,9% và Mắc ca nhân tinh chế chỉ chiếm 7,2% vào năm 2018.
Về kênh phân phối và chính sách giá: Doanh nghiệp phân phối qua kênh gián tiếp với 2 đại lý bán buôn tại Nga. Tổng số kênh phân phối tăng từ 15 kênh (2016) lên 18 kênh (2017) và đạt 22 kênh (2018). Doanh nghiệp áp dụng hai mức giá A và B, mức chiết khấu 10% cho đại lý bán lẻ và 12% cho đại lý bán buôn. Giá xuất khẩu Mắc ca thô tăng chậm: năm 2014 đạt 339,3 USD/tấn; năm 2015 đạt 350,0 USD/tấn; năm 2016 đạt 350,25 USD/tấn và năm 2018 đạt 350,66 USD/tấn. Năm 2018 ghi nhận giá Mắc ca nhân có thời điểm đạt 80.000 đồng/kg trước khi giảm mạnh do biến động tiêu thụ tại châu Âu.
Bảng: Cơ cấu lao động của IDMA giai đoạn 2014 – 2016
(Nguồn: Phòng Hành chính nhân sự - Đơn vị: Người)
| Tiêu chí phân loại |
Năm 2014 |
Tỷ trọng (%) |
Năm 2015 |
Tỷ trọng (%) |
Năm 2016 |
Tỷ trọng (%) |
| Tổng số lao động |
569 |
100 |
589 |
100 |
590 |
100 |
| 1. Theo chức năng: |
|
|
|
|
|
|
| - Lao động trực tiếp |
395 |
69,4 |
417 |
70,8 |
390 |
66,1 |
| - Lao động gián tiếp |
174 |
30,6 |
172 |
29,2 |
200 |
33,9 |
| 2. Theo giới tính: |
|
|
|
|
|
|
| - Nam |
519 |
91,2 |
538 |
91,3 |
537 |
91,0 |
| - Nữ |
50 |
8,8 |
51 |
8,7 |
53 |
9,0 |
| 3. Theo trình độ: |
|
|
|
|
|
|
| - Đại học và trên Đại học |
124 |
21,8 |
130 |
22,0 |
157 |
26,6 |
| - Cao đẳng |
17 |
3,0 |
22 |
3,7 |
33 |
5,6 |
| - Trung cấp |
33 |
5,8 |
20 |
3,4 |
10 |
1,7 |
| - Công nhân kỹ thuật trực tiếp |
345 |
60,6 |
371 |
63,0 |
345 |
58,4 |
| - Lao động phổ thông |
50 |
8,7 |
46 |
7,9 |
45 |
7,7 |
| 4. Theo độ tuổi: |
|
|
|
|
|
|
| - Từ 18 - 30 tuổi |
133 |
23,3 |
139 |
23,5 |
133 |
22,5 |
| - Từ 30 - 40 tuổi |
281 |
49,4 |
289 |
49,0 |
289 |
48,9 |
| - Từ 40 - 50 tuổi |
112 |
19,7 |
116 |
19,7 |
114 |
19,4 |
| - Từ 50 tuổi trở lên |
43 |
7,6 |
46 |
7,8 |
54 |
9,2 |
Tổng số lao động năm 2016 là 590 người, trong đó cán bộ quản lý là 38 người (chiếm 6,44%), lao động tại các đơn vị trực thuộc chiếm 82,4%. Tỷ lệ lao động nam chiếm 91,0% do tính chất nặng nhọc tại các vùng trồng xa xôi. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng dần, lao động phổ thông giảm từ 8,7% xuống 7,7%.
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sản phẩm Mắc ca sang thị trường Liên Bang Nga tại Tổng công ty cổ phần đầu tư và phát triển Macadamia Quốc Tế
Theo đề cương và nhiệm vụ nghiên cứu được công bố trong văn bản, Chương 3 định hình các định hướng và giải pháp khắc phục các điểm nghẽn đã được định lượng ở Chương 2:
- Giải quyết bài toán thiếu hụt nguyên liệu thông qua việc mở rộng liên kết các vùng nguyên liệu tập trung tại Tây Nguyên và Tây Bắc.
- Nâng cao năng lực công nghệ chế biến sâu nhằm chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu từ Mắc ca nguyên liệu thô (chiếm 72,9% năm 2018) sang Mắc ca nhân và Mắc ca chế biến có giá trị gia tăng cao.
- Nâng cấp tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm để vượt qua các khâu kiểm định nghiêm ngặt của Liên Bang Nga và tăng sức cạnh tranh với các đối thủ từ Trung Quốc và Đài Loan.
- Tối ưu hóa kênh phân phối và chính sách giá, mở rộng số lượng đại lý phân phối tại Nga vượt mốc 22 kênh.
- Đề xuất các kiến nghị với Nhà nước về cơ chế hỗ trợ vốn, lãi suất tín dụng và hoàn thiện chính sách thuế; kiến nghị với Hiệp hội Mắc ca trong việc kết nối giao thương và xúc tiến thương mại quốc tế.
(Lưu ý: Văn bản nguồn cung cấp dừng lại ở mục 2.3.1 của Chương 2; nội dung chi tiết của Chương 3 được tóm lược trên cơ sở nhiệm vụ nghiên cứu và đề mục kết cấu được tác giả xác lập tại phần mở đầu).
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể gắn với các dữ liệu thực tế tại doanh nghiệp và thị trường:
- Xác lập vị thế của Việt Nam và doanh nghiệp: Việt Nam duy trì vị trí thứ 3 trong các quốc gia xuất khẩu Mắc ca sang Nga với kim ngạch tăng từ 3,01 triệu USD (2014) lên 6,15 triệu USD (2018). Riêng IDMA, doanh nghiệp vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á về kim ngạch xuất khẩu Mắc ca nguyên liệu, tổng sản lượng xuất khẩu sang Nga tăng từ 0,82 nghìn tấn (2014) lên 1,81 nghìn tấn (2018), kim ngạch xuất khẩu đạt 634,7 nghìn USD năm 2018.
- Nhận diện chính xác hạn chế về cơ cấu sản phẩm: Tác giả chỉ ra cơ cấu xuất khẩu của IDMA còn mất cân đối nghiêm trọng khi Mắc ca thô chưa qua chế biến chiếm tới 72,9% tổng sản lượng năm 2018, trong khi sản phẩm có giá trị kinh tế cao là Mắc ca nhân chỉ chiếm 7,2% do hạn chế về công nghệ chế biến và rào cản kiểm định chất lượng tại Nga.
- Đóng góp vào quản trị doanh nghiệp: Cung cấp bức tranh thực trạng về mạng lưới phân phối (phát triển lên 22 kênh phân phối năm 2018 với 2 đại lý bán buôn), cơ chế chiết khấu (10% cho bán lẻ, 12% cho bán buôn) và thực trạng cơ cấu nguồn nhân lực (590 người, 91% lao động nam, lao động trực thuộc chiếm 82,4%), làm căn cứ trực tiếp cho việc hoạch định chiến lược kinh doanh của IDMA.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn dựa trên phạm vi và dữ liệu văn bản:
- Phạm vi dữ liệu: Chuỗi số liệu phân tích hoạt động xuất khẩu kết thúc tại năm 2018, các số liệu vĩ mô về dân số và cơ cấu GDP của Nga dựa trên dữ liệu năm 2001, biểu đồ GDP cập nhật đến năm 2018 từ World Bank; các số liệu tài chính nội bộ dừng ở năm 2018.
- Tính bao quát: Đề tài chỉ nghiên cứu trường hợp điển hình tại một doanh nghiệp (IDMA) và một thị trường xuất khẩu đơn lẻ (Liên Bang Nga), chưa so sánh chuyên sâu với thị trường EU – nơi chiếm tới 43% lượng xuất khẩu của cả nước theo số liệu dẫn chứng.
- Độ hoàn thiện của tài liệu nguồn: Bản trích lục văn bản dừng lại ở phần đánh giá kết quả đạt được thuộc Chương 2, do đó hệ thống giải pháp chi tiết của Chương 3 chưa được thể hiện đầy đủ nội dung triển khai cụ thể mà chỉ mới dừng ở định hướng nhiệm vụ.
Giá trị tham khảo
Nội dung khóa luận mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:
- Sinh viên và học viên: Phù hợp làm tài liệu nghiên cứu tham khảo cho sinh viên các ngành Kinh doanh quốc tế, Kinh tế đối ngoại, Thương mại quốc tế và Quản trị kinh doanh khi thực hiện đồ án, khóa luận về phát triển thị trường xuất khẩu nông sản.
- Dữ liệu phân tích hữu ích: Cung cấp chuỗi số liệu chi tiết giai đoạn 2014 – 2018 về nhập khẩu Mắc ca của Nga, phân tích thị phần giữa các đối thủ (Australia, Brazil, Việt Nam), cấu trúc chủng loại hàng xuất khẩu (chưa chế biến, hạt, nhân) và bảng cơ cấu nhân sự sản xuất thực tế tại doanh nghiệp nông nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ trọng chủng loại hạt Mắc ca xuất khẩu của IDMA sang Nga năm 2018 có cơ cấu như thế nào?
Theo số liệu của Phòng Kinh doanh IDMA, năm 2018 doanh nghiệp xuất khẩu tổng cộng 1,81 nghìn tấn Mắc ca sang Nga. Trong đó, Mắc ca chưa chế biến đạt 1,32 nghìn tấn (chiếm tỷ trọng 72,9%); Mắc ca hạt đạt 0,36 nghìn tấn (chiếm 19,9%); Mắc ca nhân chỉ đạt 0,13 nghìn tấn (chiếm 7,2%).
2. Tình hình doanh thu và lợi nhuận của IDMA biến động ra sao trong giai đoạn 2016 – 2018?
Doanh thu bán hàng của IDMA biến động không đồng đều: năm 2016 đạt 346.268 triệu đồng, năm 2017 tăng 5,36% lên 364.844 triệu đồng, năm 2018 giảm 11,12% xuống còn 324.282 triệu đồng. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh năm 2016 đạt 11.623 triệu đồng, năm 2017 giảm 59,16% xuống 4.747 triệu đồng, sang năm 2018 tăng 91,51% (tăng 4.344 triệu đồng) lên mức 9.091 triệu đồng.
3. Ba quốc gia nào dẫn đầu về giá trị xuất khẩu Mắc ca vào thị trường Nga giai đoạn 2014 – 2018?
Theo Hải quan Nga, Australia, Brazil và Việt Nam chiếm hơn 70% thị phần nhập khẩu Mắc ca của Nga. Đến năm 2018, giá trị xuất khẩu của 3 nước lần lượt là: Australia đạt 20,97 triệu USD; Brazil đạt 8,40 triệu USD; Việt Nam đạt 6,15 triệu USD.
4. Chính sách phân phối và chiết khấu của IDMA tại thị trường Nga được triển khai như thế nào?
Doanh nghiệp phân phối chủ yếu qua kênh gián tiếp. Đến năm 2018, mạng lưới phân phối của IDMA tại Nga gồm 2 đại lý bán buôn và hệ thống điểm bán lẻ với tổng cộng 22 kênh phân phối (tăng từ 15 kênh năm 2016). Công ty áp dụng mức chiết khấu 10% cho đại lý bán lẻ và 12% cho đại lý bán buôn.
5. Đặc điểm quy mô và cơ cấu lao động của IDMA năm 2016 có điểm gì đáng chú ý?
Tính đến năm 2016, IDMA có tổng số 590 lao động. Trong đó, lao động nam chiếm 91,0% (537 người), lao động nữ chiếm 9,0% (53 người); lao động trực tiếp chiếm 66,1% (390 người); cán bộ quản lý có 38 người (chiếm 6,44%). Về trình độ, đại học và trên đại học chiếm 26,6% (157 người), công nhân kỹ thuật trực tiếp chiếm 58,4% (345 người), lao động phổ thông chiếm 7,7% (45 người).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp đã làm rõ thực trạng xuất khẩu Mắc ca của Tổng công ty cổ phần đầu tư và phát triển Macadamia Quốc Tế sang thị trường Liên Bang Nga giai đoạn 2014 – 2018 bằng chuỗi dữ liệu thống kê mô tả chi tiết. Mặc dù doanh nghiệp đã duy trì được đà tăng trưởng về sản lượng và mở rộng mạng lưới phân phối tại Nga, hoạt động xuất khẩu vẫn bộc lộ hạn chế lớn khi phụ thuộc tới 72,9% vào sản phẩm thô chưa qua chế biến. Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng về thị trường nông sản Nga, phục vụ thiết thực cho các nghiên cứu tiếp theo về nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên trường quốc tế.