Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1.1 Tổng quan về cán bộ, công chức 1.1 Khái niệm cán bộ, công chức 1.1 Khái niệm cán bộ Theo nguyên nghĩa thì “cán” là đảm đang, “bộ” là bộ phận; “cán bộ” là phần tử hoạt động trọng yếu của một tổ chức, có khả năng đảm đang, gánh vác một bộ phận công việc nhất định. Như vậy, thời nào mà có sự phân công tổ chức sinh hoạt tập thể thì cũng có những người này với những tên gọi khác nhau. Từ “cán bộ” cũng có lai lịch riêng của nó. Ở Việt Nam, từ “cán bộ” du nhập vào nước ta có thể vào thời kỳ Đệ nhị Thế chiến, thời điểm thành lập các tổ chức cách mạng bí mật chống Pháp, chống Nhật (khoảng năm 1940-1941).
Những phần tử phụ trách trong lĩnh vực chính trị, quân sự của các tổ chức cách mạng ấy được gọi là “cán bộ”. Như vậy, “cán bộ” lúc đầu được tổ chức bởi các đoàn thể, đảng phái. Họ công tác không có lãnh lương mà chỉ hưởng sinh hoạt phí của tổ chức mình mà thôi. Kể từ Cách mạng Tháng Tám 1945, sau khi giành được chính quyền, các cán bộ cách mạng được bố trí vào đội ngũ quản lý cầm quyền.
Trước đây, cán bộ và công chức được định nghĩa chung tại Điều 1 Pháp lệnh Về cán bộ và công chức ngày 26 2 1998 (không thấy có sự phân biệt giữa hai khái niệm này) là “công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”, bao gồm: + Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; + Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; + Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng; + Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; 5 + Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.” Sau này, Luật Cán bộ, công chức ngày 13 11 2008 có phân biệt giữa cán bộ và công chức theo quy định tại Điều 4 của Luật Cán bộ,công chức: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước .2 Khái niệm công chức: Bất cứ một nước nào dù là tư bản hay xã hội chủ nghĩa, Chính phủ muốn tổ chức và quản lý xã hội tốt đều phải coi trọng hàng đầu vấn đề công chức. Không thể có một nền kinh tế phát triển nhanh, công nghiệp và khoa học - kỹ thuật hiện đại, một đất nước có trật tự kỷ cương, nếu không có một đội ngũ công chức có trình độ, phẩm chất và được tổ chức khoa học. Công chức là một từ ghép, thuật ngữ công chức để chỉ các viên chức làm việc trong các cơ quan, tổ chức nhà nước hay còn gọi là các cơ quan công quyền hoặc các tổ chức công quyền (theo chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm làm việc thường xuyên 8 giờ ngày, hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Viên chức công gọi tắt là công chức.
Chế độ công chức nhà nước ra đời từ giữa thế kỷ 18, do sự phát triển của nền công nghiệp, kinh tế thị trường mở rộng và do sự thay đổi chính trị từ kiểu cai trị phong kiến chuyển sang chế độ dân chủ bầu cử. Chế độ công chức xuất hiện đầu tiên ở Anh; hiện nay ở hầu hết các nước Mỹ, Pháp, Đức, Thuỵ Điển, Nhật, các nước khác ở châu Âu, châu Á, châu Phi và các nước chậm phát triển đều có chế độ công chức; coi đó như một công cụ khoa học của việc xây dựng nền hành chính ổn định liên tục, làm chỗ dựa cho thực hiện bầu cử dân chủ. 6 Hiện nay, Nhà nước Việt Nam đang tiến hành công cuộc cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách nền hành chính quốc gia nói riêng. Ngoài những vấn đề về tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý… cần được đổi mới và cải cách thì vấn đề công chức và công vụ đang là một vấn đề thiết yếu nhất cần quan tâm.
Một tổ chức tiên tiến, có quy chế hoạt động khoa học cũng sẽ không phát huy được tác dụng, nếu không có những con người cụ thể thạo nghề, có phẩm chất tốt, có năng lực chuyên môn giỏi. Có một đội ngũ những con người như vậy thì mới có thể đáp ứng được nhiệm vụ Nhà nước giao, phục vụ nhân dân và đất nước. Thông qua công chức mà Nhà nước thể hiện mình với tư cách là Nhà nước công quyền. Khái niệm về công chức thì trên thế giới có nhiều cách quan niệm và giới hạn phạm vi khác nhau.
Song, ở Việt Nam thì ngay từ ngày đầu thành lập nước, công chức đã được coi là những người được tuyển dụng vào bộ máy nhà nước phục vụ nhân dân và quốc gia. Họ là những “công bộc” của nhân dân. Theo Sắc lệnh số 76 SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 20/5/1950 thì công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ ở trong hay ngoài nước, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định. Công chức ở đây có thể hiểu là một khái niệm được giới hạn trong phạm vi hành chính và là một yếu tố quan trọng của nền hành chính quốc gia.
Theo Luật Cán bộ, công chức ngày 13 11 2008 thì: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội , trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (khoản 2, điều 4). 7 Theo Nghị định số 06 2010 NĐ-CP ngày 25 01 2010 của Chính phủ về quy định những người là công chức thì: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị.3 Khái niệm cán bộ xã, phƣờng, thị trấn (gọi chung là cấp phƣờng): Công chức cấp xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (khoản 3, điều 4 Luật Cán bộ, công chức).2 Yêu cầu và nghĩa vụ cán bộ, công chức: Từ khi ra đời đến nay công tác cán bộ luôn được coi trọng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Trên thực tế, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ quyết định. Khi còn sống, mặc dù công việc bề bộn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn quan tâm và dành nhiều thời gian soạn tài liệu và trực tiếp huấn luyện, uốn nắn công tác cán bộ.
Ngoài ra, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đã có nhiều nghị quyết về công tác cán bộ như Nghị quyết 225, Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị (khoá III, khoá IV); Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VI); Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) và nhiều chỉ thị, nghị quyết khác trong lĩnh vực này. Các yêu cầu đối với cán bộ, công chức hành chính nhà nước: Theo V. Lênin thì phẩm chất cao quý của cán bộ được hiểu là họ có lòng trung thành với sự nghiệp và có năng lực. Do đó, cán bộ, công chức hành chính nhà nước phải có trình độ và tiêu chuẩn nhất định.
Ở nước ta hiện nay, tiêu chuẩn hàng đầu và quan trọng của cán bộ, công chức là phẩm chất chính trị và năng lực. Nó thể hiện rõ nét ở 3 yêu cầu sau: - Phải đạt yêu cầu về tiêu chuẩn chính trị: hiểu biết rộng về chính trị, năng động và tích cực tham gia công cuộc đổi mới; trung thành với Tổ quốc, với Đảng và 8 chủ nghĩa xã hội, có tinh thần quốc tế vô sản và đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù của dân tộc và của chủ nghĩa xã hội; - Phải đạt yêu cầu về chuyên môn: thể hiện ở trình độ hiểu biết chung và trình độ chuyên môn thích hợp. Hiểu biết lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước, hiểu biết khoa học quản lý và có ngoại ngữ. Có năng lực về quản lý hành chính nhà nước.
Hiểu biết tính chất chung và đặc thù của mỗi ngành, mỗi lĩnh vực trong từng phạm vi kinh tế - văn hoá – xã hội; - Phải đạt được yêu cầu về phẩm chất cá nhân: có óc sáng tạo và tính kiên định, có ý thức tổ chức kỷ luật, tính độc lập, có lòng nhân đạo, sự cảm thông và đạo đức, có khả năng phán đoán và nhạy cảm với tình hình, biết áp dụng lý luận vào thực tiễn.