Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những nghiên cứu trên thế giới 1. Thực trạng bảo tồn đa dạng sinh học Đa dạng sinh học trên Trái đất vẫn đang suy giảm với tốc độ ngày càng nhanh hơn. Hơn 1 triệu loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cận kề.
Các hoạt động của con người làm cho 75% bề mặt đất và 66% diện tích đại dương bị thay đổi mạnh mẽ. Trên hành tinh của chúng ta hiện có khoảng 30 triệu loài sinh vật và giữa chúng có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, thậm chí dựa vào nhau mà sống, loài này là thức ăn của loài kia. Con người với các hoạt động của mình đã đẩy rất nhanh tốc độ tuyệt chủng của nhiều giống loài. Trong những năm qua, hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên trên thế giới ngày càng gia tăng.
Tuy nhiên, để việc quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên đạt hiệu quả như mong muốn vẫn còn là thách thức lớn tại nhiều nơi trên thế giới. Vườn quốc gia đầu tiên trên thế giới được thành lập năm 1872 tại Mỹ, đến năm 1993, toàn thế giới có tất cả 8.619 khu bảo tồn, đến năm 2003, trên toàn thế giới có 102.102 khu bảo tồn. Đây cũng là định hướng mà tất cả các quốc gia tuân thủ. Những kinh nghiệm bảo tồn của nhiều nước trên thế giới đã thực hiện thành công sẽ là những bài học tốt để chúng ta có thể tham khảo, khắc phục những hạn chế, từ đó áp dụng một cách khôn khéo và linh hoạt.
Nghiên cứu về chi Nghiến: Burretiodendron Chi Burretiodendron trước đây được xếp trong họ Tiliaceae, sau đó nó được APG xếp vào họ Malvaceae. Chi này có các loài: Burretiodendron brilletii Kosterm.: Kiêng, quang Burretiodendron esquirolii (H.) Rehder 3 Burretiodendron hsienmu W. hsienmu: Phân bố ở Trung Quốc B. tonkinense: ở miền bắc Việt Nam và Quảng Tây, Vân Nam.
Zhuge Burretiodendron obconicum W. How Burretiodendron siamense Kosterm. Burretiodendron yunnanense Kosterm. Ngoài ra, Nghiến còn được sử dụng với nhiều tên khoa học đồng nghĩa khác như: Burretiodendron tonkinense (Gagnep.; Burretiodendron tonkinensis Kosterm.; Excentrodendron hsienmu (Chun et How) Chang et Mian; Pentace tonkinensis A.Chev (danh sách thực vật trực tuyến TPL website: Theplantlist.
Trong Sách đỏ thế giới (IUCN), Nghiến ở bậc EN (đang có nguy cơ bị đe dọa). Nghiến có ở Đông Nam và Tây Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào và Thái Lan, trong đó, Trung Quốc là nước có nhiều Nghiến phân bố. Đây là loài có sinh trưởng chậm sống trong các khu rừng nhiệt đới thường xanh trên núi đá vôi, thích hợp đất ẩm nhưng thoát nước, đây là một trong những loài cây có giá trị kinh tế của Trung Quốc. Từ những năm 1984, các nghiên cứu đều đã cho thấy tình trạng khai thác Nghiến tại Trung Quốc rất nghiêm trọng.
Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của Nghiến, A. Kostermans (1961) trong nghiên cứu về chi Burretiodendron đã mô tả đặc điểm hình thái 7 loài, trong đó có loài Nghiến. Nghiến là cây gỗ lớn, vỏ màu xám, dầy đến 1cm, bong mảng lớn. Hoa màu trắng, hoa đơn tính, quả nang hình elip, dài 5,5cm, rộng 3,5cm, nhẵn, hạt dài 1cm.
Wang Xianpu, Jin Xiaobai, Sun Chengyong (1986) trong báo cáo 4 “Burretiodendron hsienmu Chun & How: Đặc điểm sinh thái học và bảo vệ loài” đã khẳng định: Nghiến là một loài cây gỗ lớn. Nghiến có thể cao tới 40 m, thân tròn, thẳng, gốc có bạnh vè. Cuống lá dài 3,5 - 6,5 cm, mặt lá màu xanh, hình cầu, hình trứng hoặc elip, kích thước (8-14) × (5-8) cm, nhẵn, bóng, khi già có màu vàng - nâu, nách gân lá có tuyến và có túm lông, có 3 gân gốc, đỉnh lá nhọn, đuôi lá hình tim. Trong tự nhiên, những cây Nghiến lâu năm thường có bạnh vè, đường kính ngang ngực có thể phát triển đạt 1 - 3 m, hệ rễ dày, nổi lên bề mặt đá vôi và có khả năng vươn rộng hơn đường kính tán lá.
Theo nghiên cứu của Wang Xianpu (1984), Nghiến là một loài cây đang trong tình trạng bị tổn thương, khai thác kiệt ở mức báo động. Biện pháp thích hợp cần được tiến hành càng sớm càng tốt để bảo vệ và thúc đẩy tái sinh loài cây này, nếu không Nghiến sẽ có nguy cơ bị tuyệt chủng hoàn toàn trong tự nhiên. Ngoài ra nghiên cứu về Nghiến đã được một số tác giả đề cập đến như Chun Woon-young và How Foon-chew, 1956; Chiang Hong Ta và Mian Ru Huai, 1978; Wang Xianpu, Jin Xiaobai, Sun Chengyong, 1986; Li Zhiji và Wang Xianpu (1964), Wang Xianpu, Jin Xiaobai, Sun Chengyong (1986); Li Shiying và cộng sự (1956); Hu Shunshi và cộng sự (1980); A. Các nghiên cứu đều tập trung làm rõ đặc điểm phân loại, phân bố, đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học, giá trị cây Nghiến.
Trong đó một số tài liệu cũng đánh giá Nghiến là một loài cây gỗ đang trong tình trạng bị khai thác kiệt quệ, nếu không có biện pháp bảo tồn thích hợp thì chúng có thể sẽ bị tuyệt chủng trong tự nhiên. Trên thế giới đã có khá nhiều nhà khoa học nghiên cứu về loài Nghiến, năm 1918 A.Chew đã phát hiện và lấy tên khoa học loài là Pentace tokinensis, sau đó là sự nghiên cứu của Gagnep.) Chang& Miau,1978 đã giám định lấy tên loài Nghiến là Excentrodendron tonkinense đang được sử dụng rộng rãi đến nay. Trên thực tế Nghiến phân bố ở rừng nhiệt đới điển hình nhiều nhất ở Trung Quốc. Theo Li Shiyin et al.
(1956), Nghiến phát triển tốt trên núi đá vôi tinh khiết, thường trên các sườn dốc, trên đá trần hoặc đất nông, ngược lại nó không thể tồn tại trên các khu vực đồi núi nơi bề mặt có nguồn gốc từ các loại đá có tính axit như sa thạch hoặc đá phiến sét, ngay cả khi có độ dốc nhẹ hoặc tầng đất sâu. Ở phía Bắc khu vực nhiệt đới những cây đại thụ của loài này thường chiếm lĩnh các lớp trên của rừng nhiệt đới trên núi đá vôi, ở độ cao ưới 700m Nghiến thường mọc cùng với các loài cây nhiệt đới như Garcinia paucinervis, Drypetes pereticulata, Drypetes confertiflora, Vluricoccum siense và Walsura robusta. Ở miền cận nhiệt đới nơi có độ cao từ 700 đến 900 mét Nghiến vẫn tăng trưởng khá tốt và thường mọc hỗn giao với các loài cây cân nhiệt đới như Cinnamomum calcarea, Cryptocaria maclurei, Castanopis hainamensis. Wang Xianpu và cộng sự (1986) trong báo cáo “Burretiodendron hsienmu Chun & How: Its Ecology and Its Protection ” đã nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học loài và cho rằng Nghiến là một loài cây gỗ lớn, trong tự nhiên những cây nghiến khổng lồ thường có bạnh vè làm cho đường kính ngang ngực có thể phát triển từ 1-3 mét trên vùng núi đá vôi, với hệ rễ dày nổi lên bề mặt đá và vươn rộng ra khỏi phạm vi tán lá.
Các chồi và lá non có nhựa dính, lá cây trưởng thành dày, cứng, đầu nhọn dần; tán dày, cành nhánh phát triển mở rộng thường xuyên tạo thành bức khảm tận dụng tối đa nguồn ánh sáng. Những nghiên cứu ở Việt Nam 1. Thực trạng bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam Việt Nam nằm ở trung tâm Đông Nam Á, với diện tích 32. Chiều dài đất nước từ điểm cực bắc đến điểm cực nam là 1.650 km, chiều 6 rộng thay đổi từ 600km ở phía Bắc đến chỗ hẹp nhất là 50km ở miền Trung và miền Nam khoảng 200km.730 km đường biên giới.
Là đất nước có nguồn tài nguyên đa dạng sinh học phong phú, nhưng đã bị suy giảm mạnh. Chính phủ cũng đã có những hành động, chiến lược trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Chính vì vậy, nhiều văn bản Luật và dưới luật đã được ban hành, tham gia vào các công ước quốc tế. Số lượng các khu rừng đặc dụng của Việt Nam không ngừng tăng lên gồm 156 khu, diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng cũng có xu hướng tăng lên, độ che phủ rừng trên toàn quốc tính đến năm 2022 là 42,02%.
Công tác bảo tồn nguồn gen động vật rừng, thực vật rừng được quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt đối với bảo tồn nguồn gen thực vật rừng, theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997), từ năm 1988, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã chủ trì đề án bảo tồn nguồn gen cây rừng với sự hợp tác của Cục kiểm lâm, các Vườn quốc gia, các khu rừng cấm, các cơ sở nghiên cứu trong và ngoài ngành. Đề án đã xác định được chiến lược bảo tồn, các bước đi cần thiết trên cơ sở phân biệt sự khác nhau giữa bảo tồn nguồn gen với bảo tồn thiên nhiên, giữa bảo tồn cây nông nghiệp với cây rừng. Theo thông tin về các khu bảo vệ hiện có và đề xuất ở Việt Nam (Bộ NN & PTNT, 2004), và phần trình bày khái quát và hệ thống của Hoàng Hòe, 2002 về công tác quản lý VQG và KBT hiện nay ở Việt Nam, kết hợp với những minh chứng và phân tích trên, có thể thấy số lượng các KBT ở nước ta tăng đáng kể và đã có quy hoạch và tiếp cận theo quan điểm hệ sinh thái.
Điều này rất quan trọng vì giữ được phần diện tích thích hợp để có thể đảm bảo duy trì ĐDSH trong nghiên cứu và phát triển sau này. Hiện nay có rất nhiều Bộ ngành cùng tham gia công tác bảo tồn ĐDSH trên các lĩnh vực khác nhau. Các cơ quan này đều có chung mục đích là tham gia vào công tác bảo tồn ĐDSH nhưng mục tiêu lại khác nhau, gây ra nhiều bất cập, chồng chéo. Cơ cấu tổ chức của các khu rừng đặc dụng chưa được 7 thống nhất, do chức năng cũng như quyền hạn khác nhau nên sự quản lý của hai cấp cũng khác nhau, dẫn đến việc quản lý bị buông lỏng, các hoạt động bảo tồn dễ bị chệch mục tiêu.
Việc bố trí hệ thống và diện tích khu bảo tồn chưa phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, sự phân chia ranh giới chưa hợp lý về lĩnh vực bảo tồn. Nghiên cứu về loài Nghiến ở Việt Nam Tên Khoa học: Excentrodendron tonkinense (Gagnep.) Chang & Miau Vị trí phân loại: Giới: Plantae Ngành: Mognoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Malvales Họ: Tiliaceae Chi: Excentrodendron Loài: tonkinense Tên đồng nghĩa: Pentace tonkinensis A. Nud; Parapentace tonkinensis Gagnep, nom. Inval; Burretiodendron tonkinensis (Gagnep.) Kosterm; Burretiodendron hsienmu Chun & How, Excentrodendron hsienmu auct, non (Chun & How) Chang & Miau.
Theo Sinh vật rừng Việt Nam (2022), Nghiến có tên khoa học là Excentrodendron tonkinense (Gagnep.) Chang & Miau, 1978, Pentace tonkinensis A. 1918, Parapentace tonkinensis Gagnep., Burretiodendron hsienmu Chun & How, 1956; Burretiodendron tonkinense (Gagnep. Họ: Đay Tiliaceae, Bộ: Bông Malvales. Theo một số tài liệu có mô tả một số đặc điểm hình thái, phân bố của loài nghiến: Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000); Sách đỏ Việt Nam (2007),… Nghiến là cây gỗ lớn, cây có thể cao 25-30 m, đường kính tới 140- 150cm, thân tròn thẳng, vỏ màu xám, sau xám nâu, bong mảng.