MỞ ĐẦU 1. Ly do chọn đề tài Trong những năm vừa qua, các vụ tai nạn lao động trong ngành gỗ ngày càng phô biên, môi trường làm việc trong các xí nghiệp chưa thực sự đảm bảo an toàn cho sức khoẻ của người lao động. Trước tình hình trên, việc nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và sâu sắc tình hình An toàn vệ sinh lao động trong doanh nghiệp để từ đó đề ra các biện pháp phòng ngừa làm giảm bớt các ca tai nạn lao động để bảo vệ sức khoẻ của con người là điều hết sức cần thiết. Vì vậy tác giả đã lựa chon đề tài nghiên cứu là: “Đánh giá xây dựng các biện pháp An toàn lao động tại Công ty đồ gỗ Thái Bình Dương” Nhận thấy chưa có tai liệu nào nghiên cứu công tác An toàn vệ sinh lao động tại công ty Thái Bình Dương.
Thực tế hiện nay có rất nhiều người lao động đang làm việc tại nhiều ngành sản xuất độc hại mà điều kiện lao động chưa đảm bảo gây tác động trực tiếp tới sức khoẻ lao động trong các lĩnh vực như: đệt may, vệ sinh môi trường, sản xuất gỗ, thủy sản. Điều kiện và công tác ATLD có vai trò quan trọng trong san xuất xã hội, sản xuất vật chất, điều kiện lao động được hình thành phụ thuộc vào mối quan hệ giữa kinh tế và cơ sở kỹ thuật của sản xuât. Đặc thù của loại hình lao động này là trong môi trường không thuận lợi thường xuyên phải tiếp xúc với tiếng ồn, bụi, thường xuyên phải đứng trong một thời gian liên tục làm anh hưởng xấu đến sức khoẻ, gây ra một số bệnh nghề nghiệp. Sử dụng trực tiếp các máy móc có nguy cơ gây tai nạn lao động cao.
Trên cơ sở xác định tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả định hướng nghiên cứu “Đánh giá và xây dựng các giải pháp ATLD tại công ty đồ gỗ Thái Bình Dương”. Công tác ATLĐ là đối tượng thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học và đề tài về công nhân lao động luôn thu hút sự tham gia nghiên cứu của các nhà khoa học từ trước tới nay. Vì vậy, đề tài Đánh giá và xây dựng các giải pháp ATLĐ tại công ty đồ gỗ Thái Binh Dương” nghiên cứu về một số yếu té của công tác ATLĐ cho công nhân trong ngành sản xuất đồ gỗ hy vọng sẽ đóng góp một phan nào đó dé làm sáng tỏ va chứng minh vai trò quan trọng của công tác ATLD trong các ngành sản xuất, nhằm giúp các nhà sản xuất nhận định đúng cải thiện điều kiện lao động, bảo hộ cho người lao động nhằm tạo ra môi trường làm việc tốt hơn, tạo ra năng suất lao động cao hơn. Tầm quan trọng của công tác An toàn vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp chế biến hiện nay.
Nghiên cứu van dé này cho ta thay thực trạng công việc của người lao động dé tìm ra các giải pháp, chính sách về lao động nhằm nâng cao năng suất lao động, làm giảm các bệnh nghề nghiệp cũng như bệnh thông thường, góp phan cải thiện môi trường làm việc, nâng cao chất lượng môi trường. Mục đích nghiên cứu Giảm thiểu tối đa các vụ tai nạn lao động, hạn chế hơn tại thời điểm hiện tại. trang bị cho người lao động kiến thức vững vàng trong công tác an toàn lao động. chỉ tiêu đặt ra là giảm các ca tai nạn lao động xuống mức thấp nhất.
Tạo ra một môi trường lao động đảm bảo tính an toàn cao, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững môi trường. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là con người và quá trình lao động, quan hệ tương hỗ của con người và thiết bị công nghệ, tô chức lao động và quá trình sản xuất, môi trường làm việc, các chế độ đối với người lao động. Pham vi nghiên cứu: Nghiên cứu trong phạm vi tại các bộ phận sản xuất, môi trường xung quanh khu vực sản xuất, trong lĩnh vực an toàn lao động sản xuất đồ gỗ. CHUONG 2: TONG QUAN 2.
Khái niệm An toàn lao động An toàn lao động (Bảo hộ lao động) nghiên cứu và phát hiện những nguy hiểm trong sản xuất, độc hại nghề nghiệp và đề ra các phương pháp loại bỏ chúng hay làm yếu đi rồi trừ khử các trường hợp tai nạn trong sản xuất, sự có và hỏa hoạn. Trong thực tế không có loại sản xuất nào hoàn toàn không nguy hiểm và không độc hại, nghiên cứu làm giảm xác suất gây tai nạn hay bệnh nghề nghiệp cho người lao động đến cực tiểu, đồng thời đảm bảo điều kiện tiện nghi cho người lao động trong khi đạt năng suât lao động cực đại. Quá trình lao động của con người bao gid cũng diễn ra trong một điều kiện sản xuất nhất định. Mỗi môi trường sản xuất khác nhau có các chế độ an toàn lao động khác nhau, nhân tố khác nhau tác động đến người lao động Công tác an toàn lao động trong ngành chế biến gỗ là tập hợp các nhân tố của môi trường sản xuất, các thiết bị sản xuất phù hợp, công tác an toàn lao động phù hợp với tiêu chuân cho phép có ảnh hưởng tới sức khỏe và kha năng làm việc của người lao động.
Điêu kiện lao động là nhân tô đê tăng năng suât lao động, tăng khả năng làm việc và bảo đảm sức khỏe, an toàn cho người lao động. Hiện nay người sử dụng lao động da quan tâm đên sức khoẻ của người lao động hơn, tuy nhiên hiện nay ở một số doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ của nước ta van chưa dam bảo những điêu kiện lao động cân thiệt cho công nhân. “+ Môi quan hệ giữa an toàn lao động và môi trường: Vân đê môi trường nói chung hay môi trường lao động nói riêng là một vân đê thời sự câp bách được đê cập đên với quy mô toàn câu. Khi môi trường lao động trong các xí nghiệp không an toàn, không được đảm bảo thì những chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất không được xử lý sẽ phát tán ra môi trường xung quanh.
Ô nhiễm không khí nhà xưởng kéo theo ô nhiễm toàn diện môi trường. Như vậy, công tác an toàn, vệ sinh lao động không được đảm bảo cũng chính là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. Dé có được một giải pháp tốt tạo nên một môi trường lao động phù hợp cho người lao động, đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành khoa học, được dựa trên 4 yeu tố cơ bản sau: - Ngăn chặn và hạn chế sự lan tỏa các yếu tố nguy hiểm và có hại từ nguồn phát sinh.Biện pháp tích cực nhất là thay đổi công nghệ sản xuất với các nguyên liệu và nhiên liệu sạch, thiết kế và trang bị những thiết bị, day chuyền sản xuất không làm ô nhiễm môi trường. - Thu hồi và xử lý các yếu tố gây ô nhiễm.
- Xử lý các chat thải trước khi thai ra dé không làm ô nhiễm môi trường. - Trang bi các phương tiện bảo vệ cá nhân. Các chuẩn An toàn lao động - Tiêu chuẩn an toàn lao động là các quy định làm căn cứ thực hiện và đánh giá mức độ an toàn lao động trong quá trình lao động. Tiêu chuẩn an toàn lao động ở các nước có thé khác nhau phụ thuộc vào trình độ lao động, trình độ công nghệ của mỗi nước.
- Ở Việt Nam, các tiêu chuẩn an toàn lao động do Chính phủ và các cơ quan quản lí ngành ban hành, gồm các quy định bắt buộc về trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động, được tập huấn về các quy định tiêu chuẩn an toàn theo quy định của pháp luật. - Các chủ đầu tư, người sử dụng lao động, các nhà sản xuất, nhập khâu. và người lao động có trách nhiệm thực hiện các tiêu chuân an toàn lao động. - Nguyên tắc cơ bản của pháp luật an toàn lao động, vệ sinh lao động + Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lí hoạt động an toàn lao động, vệ sinh lao động Nội dung của nguyên tắc thé hiện ở việc Nhà nước là chủ thé ban hành các văn bản pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động, hướng dẫn thực hiện, thanh tra và xử lí vi phạm pháp luật.
Nhà nước quyết định các chương trình quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động, đầu tư nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ về an toàn, vệ sinh lao động, hỗ trợ phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghé nghiệp, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, thực hiện hiện bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng tạo điều kiện thuận lợi để người sử dụng lao động, người lao động các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động, áp dụng các tiêu chuẩn và hệ thống quản lí tiên tiến, hiện đại nâng cao hiệu quả an toàn, vệ sinh lao động. + Nguyên tắc thực hiện an toàn lao động, vệ sinh lao động là nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên trong quan hệ lao động Nội dung của nguyên tắc bắt buộc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động thể hiện ở nghĩa vụ tuân thủ các quy định về an toàn, vệ sinh lao động của người lao động, người sử dụng lao động và chế tài, trách nhiệm khắc phục hậu quả tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp xảy ra của người sử dụng lao động. Do đặc điểm của an toàn, vệ sinh lao động là gắn liền với tiêu chuan về kĩ thuật, công nghệ với công việc và nghề nghiệp cụ thé, cần sự đồng bộ và toàn diện trong thực hiện nên quy định về an toàn, vệ sinh lao động phải đảm bảo sự chặt chẽ, chỉ tiết và có tính bắt buộc từ quy chuẩn môi trường, kĩ thuật tới biện pháp phòng tránh, khắc phục sự cé và cả trách nhiệm với các chế tài đủ mạnh đảm bảo việc tuân thủ.
Không chỉ dừng lại ở những chế tài xử phạt hành chính do vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động mà còn truy cứu trách nhiệm hình sự, bồi thường, khắc phục thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và vật chất khi có những TỦI ro xay ra. + Nguyên tắc đảm bảo tham vấn ý kiến của đại diện người lao động, người sử dụng lao động trong quy định và thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động: Nội dung nguyên tắc tham vấn đại điện các bên trong quy định và thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động thể hiện ở việc chia sẻ, bàn thảo thông tin về quy định và thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động.