phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, đã kết cấu thành 3 chƣơng Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của công tác quản lý Nhà nƣớc về an toàn vệ sinh lao động trong doanh nghiệp Chƣơng 2. Thực trạng công tác quản lý Nhà nƣớc về an toàn vệ sinh lao động trong doanh nghiệp trên địa bàn các khu công nghiệp Đà Nẵng. Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nƣớc về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp trên địa bàn các khu công nghiệp Đà Nẵng.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Từ những năm 50 của thế kỷ XX, công tác an toàn, vệ sinh lao động đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta coi trọng và đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, văn bản pháp luật nhƣ "Điều lệ tạm thời về Bảo hộ lao động" (tháng 12/1964), "Pháp lệnh Bảo hộ lao động" (tháng 9/1991), Chỉ thị số 132/CT ngày 13/3/1959 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng. Ngày 01/5/1971, Chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng đã ra quyết định thành lập "Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động". Tháng 02/2005, Thủ tƣớng Chính phủ ra quyết định thành lập "Hội đồng Bảo hộ lao động quốc gia", tuy nhiên giai đoạn này thƣờng dùng thuật ngữ “Bảo hộ lao động”. Từ năm 1995, khi Bộ luật Lao động ra đời và có hiệu lực, thuật ngữ "An toàn và Vệ sinh lao động" bắt đầu đƣợc sử dụng rộng rãi hơn để phù hợp với cách sử dụng của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và các nƣớc khác.
Đã có nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu kinh tế, các chuyên gia đầu ngành nghiên cứu đề tài này ở các thời gian và cấp độ khác nhau: 5 Năm 2013, đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá hiệu quả tác động của huấn luyện An toàn vệ sinh lao động đối với người lao động” của Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động chủ trì, do kỹ sƣ Trƣơng Hòa Hải làm chủ nhiệm đề tài (mã đề tài 211/09/TLĐ) Năm 2013, tác giả Ngô Quang Tú, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nêu lên thực trạng về sự phát triển mạnh mẽ của ngành chế biến thủy sản đã ảnh hƣởng, tác động xấu đến môi trƣờng và đời sống ngƣời dân xung quanh các cơ sở chế biến thuỷ sản do chất thải từ các cơ sở chế biến. Tác giả nhấn mạnh sự cần thiết của phát triển sản xuất đi đôi với tăng cƣờng quản lý Nhà nƣớc về môi trƣờng. Năm 2013, tác giả Nguyễn Thị Bích Diệu đã trình bày về “Quản lý an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp ở khu Công nghiệp Phú Tài tỉnh Bình Định”. Tác giả đã tập trung vào đáng giá tình hình quản lý ATVSLĐ tại các doanh nghiệp ở khu công nghiệp Phú Tài với những thành công và khiếm khuyết từ công tác tuyên truyền về công tác này cho đến tổ chức tuyên truyền quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp; Tổ chức đào tạo và tập huấn về quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp … Từ đó đã kiến nghị đƣợc các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ATVSLĐ tại các doanh nghiệp ở khu công nghiệp Phú Tài tỉnh Bình Định.
Những nội dung này là cơ sở để hình thành nội dung cho nghiên cứu này. Năm 2012, tác giả Bùi Quang Bình đã có bài viết đăng trên báo Kinh tế lao động cho rằng nhà nƣớc cần phải có những quy định về điều kiện làm việc để bảo đảm ATVSLĐ cho lao động vì tính chất không hoàn hảo của thông tin thị trƣờng lao động mà thƣờng lao động không có những thông tin về điều kiện làm việc của mình. Cũng theo nghiên cứu này yếu tố kinh tế quyết định rất nhiều tới môi trƣờng và điều kiện làm việc trong các doanh nghiệp. Nếu 6 muốn khắc phục tình trạng này thì các biện pháp kinh tế của chính phủ có vai trò quan trọng.
Năm 2012, tác giả Triệu Quốc Lộc, Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động xác định vấn đề trọng tâm của quản lý, kiểm soát an toàn là giám sát và đánh giá an toàn những đối tƣợng lao động. Tác giả cũng chỉ ra những bất cập do phƣơng pháp và công cụ giám sát an toàn ở nƣớc ta không còn phù hợp với thực tế, từ đó đề xuất phƣơng pháp “Giám sát an toàn sản suất theo nhóm các yếu tố nguy hiểm”. Năm 2012, Cục An toàn lao động phối hợp với Viện Khoa học Lao động và Xã hội đã tiến hành triển khai thí điểm “Hệ thống quản lý ATVSLĐ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực có nguy cơ cao như khai thác đá, sản xuất vật liệu xây dựng” tại hai tỉnh Hà Nam, Quảng Ninh và khu vực làng nghề. Theo đó, các doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn đƣợc lựa chọn để áp dụng thí điểm sẽ đƣợc các chuyên gia trong lĩnh vực ATVSLĐ tƣ vấn cũng nhƣ hỗ trợ kinh phí giúp xây dựng hệ thống quản lý ATVSLĐ ở đơn vị mình nhƣ: cung cấp các tài liệu, thiết bị an toàn, xây dựng góc bảo hộ lao động, công tác huấn luyện … Nhằm giúp doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản lý ATVSLĐ vừa đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật vừa giúp doanh nghiệp thực hiện tốt công tác ATVSLĐ, giúp giảm thiểu TNLĐ và BNN trong.
Trên cơ sở này tổng kết, rút kinh nghiệm để hoàn thiện quy trình xây dựng mô hình. Từ đó nhân rộng việc áp dụng hệ thống quản lý ATVSLĐ trong cả nƣớc. Năm 2011, đề tài giữa Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Bộ Khoa học công nghệ “Điều tra đánh giá ảnh hưởng hoạt động của các khu công nghiệp đến phát triển kinh tế xã hội, sức khỏe người lao động và môi trường xung quanh; đề xuất các giải pháp phát triển bền vững cho các khu công nghiệp Việt Nam” do GS.TS Lê Vân Trình làm chủ nhiệm đề tài (mã đề tài 7 CTPH-2010/01/TLĐ-BKHCN) Năm 2011, đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng và áp dụng thử mô hình quản lý rủi ro để góp phần nâng cao hiệu quả công tác ATVSLĐ ở các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ” của Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động (Tiến sĩ Nguyễn Thắng Lợi làm chủ nhiệm, mã đề tài 209/13/TLĐ) Năm 2010, đề tài nghiên cứu “Xây dựng quy trình quản lý an toàn - vệ sinh lao động trong các loại hình doanh nghiệp” do Cục An toàn Lao động thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thực trạng quá trình thực hiện hệ thống quản lý ATVSLĐ tại cơ sở và các doanh nghiệp; khuyến nghị xây dựng quy trình quản lý ATVSLĐ trong các cơ sở và doanh nghiệp.
Năm 2007, đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu những biện pháp tuyên truyền, phổ biến về an toàn vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp” do Cục An toàn lao động – Bộ LĐTBXH thực hiện (mã đề tài CB 2007-02-02). Mục tiêu nghiên cứu Đề xuất những biện pháp tuyên truyển, phổ biến an toàn vệ sinh lao động gắn với xây dựng văn hóa an toàn trong các doanh nghiệp, nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức về an toàn vệ sinh lao động của ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động, góp phần giảm thiểu tai nạn lao động, bảo vệ sức khỏe ngƣời lao động. Năm 2004, đề tài độc lập cấp Nhà nƣớc “Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và hệ thống quản lý an toàn và vệ sinh lao động phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo vệ sức khỏe lao động trong quá trình hội nhập” (PGS.TS Nguyễn An Lƣơng làm chủ nhiệm đề tài, mã đề tài KHCN. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm a. An toàn, vệ sinh lao động: là tổng thể các hoạt động đồng bộ trên các mặt pháp luật, tổ chức quản lý, kinh tế xã hội, khoa học - công nghệ nhằm bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện lao động, phòng chống tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho con ngƣời trong lao động b. Điều kiện lao động: là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật đƣợc biểu hiện thông qua các công cụ và phƣơng tiện lao động, đối tƣợng lao động, quá trình công nghệ, môi trƣờng lao động và sự sắp xếp, bố trí chúng trong không gian và thời gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với ngƣời lao động tại chỗ làm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con ngƣời trong quá trình lao động.
Tình trạng tâm sinh lý của con ngƣời trong khi lao động tại nơi làm việc đƣợc coi nhƣ một yếu tố gắn liền với điều kiện lao động. Môi trường lao động: là phạm vi không gian gắn với quá trình lao động trong đó thể hiện đối tƣợng lao động, phƣơng tiện, tổ chức lao động và các yếu tố kinh tế, xã hội ảnh hƣởng trực tiếp đến quá trình lao động. Nguy cơ: là khả năng tiềm ẩn gây nên sự cố nguy hiểm cho quá trình sản xuất, tác hại sức khỏe tính mạng của NLĐ trong quá trình lao động. Rủi ro: Tai nạn, bệnh tật, sự cố không mong đợi, ngoài ý muốn đã xảy ra.
Yếu tố nguy hiểm là những yếu tố có nguy cơ làm chấn thƣơng hoặc chết ngƣời, gây tai nạn lao động. Yếu tố có hại là những yếu tố có nguy cơ làm giảm sức khỏe ngƣời lao động, gây bệnh nghề nghiệp. Kỹ thuật an toàn là một hệ thống các biện pháp và phƣơng tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm bảo vệ ngƣời lao động khỏi tác động của các yếu tố nguy hiểm gây tai nạn lao động. Kỹ thuật vệ sinh: là hệ thống các biện pháp và phƣơng tiện về tổ chức, vệ sinh và kĩ thuật vệ sinh nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố có hại trong lao động, sản xuất đối với ngƣời lao động.
Tai nạn lao động: Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thƣơng cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể ngƣời lao động, hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ lao động. Nhiễm độc đột ngột cũng là tai nạn lao động. Tai nạn lao động đƣợc phân ra: chấn thƣơng, nhiễm độc nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp.