phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, đã kết cấu thành 3 chƣơng Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp Chƣơng 2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về an toàn, vệ sinh lao động tại 5 các doanh nghiệp trên địa bàn quận Sơn Trà. Giải pháp quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn quận Sơn Trà.
Tổng quan các nghiên cứu Đây là một chủ đề khá nóng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay nên đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu. Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết viết về vấn đề ATVSLĐ, trong đó có đề cập đến công tác ATVSLĐ ở góc độ lý luận, chính sách và các hoạt động thực tiễn. Tiêu biểu có thể kể đến một số công trình nghiên cứu trong nƣớc và nƣớc ngoài nhƣ sau: Nghiên cứu của Dietmar Elsler (2012) cho rằng một số quốc gia thành viên EU sẵn sàng đƣa ra hàng loạt các hình thức khen thƣởng tài chính khác nhau cho doanh nghiệp đầu tƣ vào công tác an toàn cho NLĐ. Hình thức khen thƣởng rất đa dạng từ các khoản trợ cấp, h trợ của nhà nƣớc cho đến các hình thức miễn thuế; các khoản vay ngân hàng với kỳ hạn ƣu đãi hay tiền phí đóng bảo hiểm thấp.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng ở Liên minh Châu Âu đã nhận thấy đƣợc sự cần thiết trong việc sử dụng các biện pháp khuyến khích kinh tế từ đó thúc đẩy doanh nghiệp áp dụng các điển hình tốt cho công tác phòng ngừa tại cơ sở của mình. Nghiên cứu cho thấy những biện pháp khuyến khích kinh tế ngoài nƣớc có thể thúc đẩy hơn nữa đầu tƣ vào công tác phòng ngừa tại tất cả các tổ chức, từ đó dẫn tới tỉ lệ tai nạn lao động sẽ giảm bớt. Kết quả nghiên cứu cho thấy dấu hiệu rõ nét nhất về tính hiệu quả của các biện pháp khuyến khích kinh tế, đồng thời khích lệ các tổ chức tiến hành cải thiện công tác ATVSLĐ tại cơ sở của mình. Theo Elsler (2010), thông qua các biện pháp khuyến khích kinh tế, m i đồng euro bỏ ra sẽ tích kiệm đƣợc trên 4,81 đồng euro khác do giảm thiểu đƣợc tỉ lệ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, đồng thời tỉ lệ nghỉ làm cũng giảm bớt do điều kiện làm việc đƣợc cải thiện.
6 Nghiên cứu này cũng khuyến nghị nên có kế hoạch khuyến khích kinh tế, đ c biệt đối với các công ty bảo hiểm tƣ nhân và công ty bảo hiểm nhà nƣớc, đƣợc đƣa ra nhƣ sau: (i) Cải thiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (đ c biệt ở các công ty lớn); (ii) Nâng cao danh tiếng của công ty bảo hiểm; (iii) Tạo lập vị thế 50/50 với khách hàng; (iv) Lợi thế cạnh tranh (đối với các công ty tƣ nhân). Luận án Ths của Lê Thị Phƣơng Thúy (2008). Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động, sự cần thiết của việc ban hành các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ và việc thực thi pháp luật trên thực tế trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam.
Đánh giá kết quả, những bất cập và nguyên nhân của những bất cập, tồn tại. Đề xuất một số yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ; sửa đổi, bổ sung một số quy định an toàn, vệ sinh lao động cho lao động nữ. Tăng cƣờng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; nâng cao chất lƣợng hoạt động của tổ chức công đoàn; tăng cƣờng công tác quản lý, thanh tra, xử phạt, nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ. Năm 2012, Cục An toàn lao động phối hợp với Viện Khoa học Lao động và Xã hội đã tiến hành triển khai thí điểm hệ thống quản lý ATVSLĐ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực có nguy cơ cao nhƣ khai thác đá, sản xuất vật liệu xây dựng tại hai tỉnh Hà Nam (60 doanh nghiệp), Quảng Ninh (60 doanh nghiệp) và khu vực làng nghề.
Theo đó, các doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn đƣợc lựa chọn để áp dụng thí điểm sẽ đƣợc các chuyên gia trong lĩnh vực ATVSLĐ tƣ vấn cũng nhƣ h trợ kinh phí giúp xây dựng hệ thống quản lý ATVSLĐ ở đơn vị mình nhƣ: cung cấp các tài liệu, thiết bị an toàn, xây 7 dựng góc bảo hộ lao động, công tác huấn luyện,… Nhằm giúp doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản lý ATVSLĐ vừa đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật vừa giúp doanh nghiệp thực hiện tốt công tác ATVSLĐ, giúp giảm thiểu TNLĐ và BNN trong. Trên cơ sở này tổng kết, rút kinh nghiệm để hoàn thiện quy trình xây dựng mô hình. Từ đó nhân rộng việc áp dụng hệ thống quản lý ATVSLĐ trong cả nƣớc. Lê Vân Trình (2000) cho rằng nhà nƣớc cần phải có những quy định về điều kiện làm việc để bảo đảm ATVSLĐ cho lao động nhất là vấn đề môi trƣờng làm việc vì tính chất không hoàn hảo của thông tin thị trƣờng lao động mà thƣờng lao động không có những thông tin về điều kiện làm việc của mình.
Cũng theo nghiên cứu này yếu tố kinh tế quyết định rất nhiều tới môi trƣờng và điều kiện làm việc trong các doanh nghiệp. Nếu muốn khắc phục tình trạng này thì các biện pháp kinh tế của chính phủ có vai trò quan trọng. Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu những biện pháp tuyên truyền, phổ biến về an toàn vệ sinh lao động tại các doanh nghiêp” có mã số CB 2007-02-02 do Cục An toàn lao động – Bộ LĐTBXH thực hiện năm 2007. Mục tiêu nghiên cứu Đề xuất những biện pháp tuyên truyển, phổ biến an toàn vệ sinh lao động gắn với xây dựng văn hóa an toàn trong các doanh nghiệp, nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức về an toàn vệ sinh lao động của ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động, góp phần giảm thiểu tai nạn lao động, bảo vệ sức khỏe ngƣời lao động.
Kết quả nghiên cứu Đề tài đã phân tích, đánh giá thực tiễn công tác thông tin, tuyên truyền về an toàn vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp và nhận thức, ý thức của ngƣời sử dụng lao động, ngƣời lao động, làm cơ sử xây dựng biện pháp tuyên truyền, phổ biến an toàn vệ sinh lao động hữu hiệu, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức, ý thức của ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động tại các doanh nghiệp trong giai đoạn hội nhập. Đề tài nghiên cứu “Xây dựng quy trình quản lý an toàn - vệ sinh lao 8 động trong các loại hình doanh nghiệp” do Cục An toàn Lao động thực hiện năm 2010. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thực trạng quá trình thực hiện hệ thống quản lý ATVSLĐ tại cơ sở và các doanh nghiệp; khuyến nghị xây dựng quy trình quản lý ATVSLĐ trong các cơ sở và doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu: Đề tài cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm xây dựng quy trình quản lý công tác ATVSLĐ ngày một tốt hơn, giúp các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp hạn chế những rủi ro, chết ngƣời trong qúa trình lao động sản xuẩt, nâng cao hiệu quả sản xuất; khuyến nghị các giải pháp bảo đảm ATVSLĐ trong các cơ sở và doanh nghiệp.
9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm An toàn, vệ sinh lao động: là các hoạt động đồng bộ trên các m t pháp luật, tổ chức quản lý, KTXH, KHCN nhằm cải thiện điều kiện lao động, bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo vệ tính mạng và sức khỏe cho con ngƣời trong lao động. Điều kiện lao động đƣợc hiểu là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật đƣợc biểu hiện thông qua các công cụ và phƣơng tiện lao động, đối tƣợng lao động, quá trình công nghệ, môi trƣờng lao động và sự sắp xếp, bố trí chúng trong không gian và thời gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với ngƣời lao động tại ch làm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con ngƣời trong quá trình lao động.
Kỹ thuật an toàn là hệ thống các biện pháp và phƣơng tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố nguy hiểm gây chấn thƣơng đối với NLĐ trong sản xuất. 3153-79) An toàn lao động là tình trạng của điều kiện lao động, mà ở tình trạng đó không gây nguy hiểm trong sản xuất. Vệ sinh lao động là hệ thống các biện pháp và phƣơng tiện về tổ chức kỹ thuật vệ sinh, nhằm phòng ngừa tác động của các yếu tố có hại trong sản xuất đối với NLĐ. Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thƣơng cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể ngƣời lao động, ho c gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc ho c nhiệm vụ lao động.
10 Nhiễm độc đột ngột cũng là tai nạn lao động. Tai nạn lao động đƣợc phân ra: chấn thƣơng, nhiễm độc nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp. Chấn thƣơng: là tai nạn mà kết quả gây nên những chấn thƣơng hay hủy hoại một phần cơ thể ngƣời lao động, làm tổn thƣơng tạm thời hay mất khả năng lao động vĩnh viễn hay thậm chí gây tử vong. Chấn thƣơng có tác dụng đột ngột.
Bệnh nghề nghiệp: là bệnh phát sinh do tác động của điều kiện lao động có hại, bất lợi (tiếng ồn, rung…) đối với ngƣời lao động. Bệnh nghề nghiệp làm suy yếu dần sức khỏe hay làm ảnh hƣởng đến khả năng làm việc và sinh hoạt của ngƣời lao động. Bệnh nghề nghiệp làm suy yếu sức khỏe của ngƣời lao động một cách dần dần và lâu dài. Nhiễm độc nghề nghiệp: là sự hủy hoại sức khỏe do tác dụng của các chất độc xâm nhập vào cơ thể ngƣời lao động trong điều kiện sản xuất.
Cải thiện điều kiện làm việc không những bảo vệ sức kho , tránh bệnh nghề nghiệp cho ngƣời lao động mà còn nâng cao năng suất lao động và chất lƣợng sản phẩm.