CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT LOẠI HÌNH ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ GIAI ĐOẠN CUỐI THẾ KỶ XIX – 1930 1. Tìm hiểu một số khái niệm Tài tử Danh từ “tài tử” theo Nguyễn Phúc An (2019), đã xuất hiện ở Trung Quốc “sớm nhất vào thời Chiến quốc trong sách Tả truyện, đến các đời Đường, Tống, Minh thì thịnh hành, tài tử không những được chỉ cho người có tài hoa, còn được chỉ cho tác phẩm văn học (…) nhưng vẫn xoay quanh vấn đề tư tưởng Nho giáo và chủ đề cái đẹp, nghệ thuật” (tr. Chính vì vậy, Kim Thánh Thán – một nhà phê bình văn học thời Minh – Thanh đã soạn ra Lục tài tử thư bao gồm sáu cuốn sách tài tử mà Kim Thánh Thán phê bình: Nam Hoa Kinh, Ly tao, Sử ký, thơ Đỗ Phủ, Tây sương ký, Thủy hử. Đến cuối thế kỷ XIX, một số từ điển được xuất bản tại Nam kỳ có đề cập đến danh từ “tài tử”.
Theo quyển Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình-Tịnh Paulus Của (bản in 1895), từ “tài tử” được định nghĩa là “kẻ có tài riêng, kẻ chuyên nghề cổ nhạc, nhạc công” (tr.942), đồng thời, bên cạnh từ “tài tử”, ông còn đề cập đến “bọn tài tử” với nghĩa là “bọn chuyên nghề cổ nhạc” (Huỳnh Tịnh Của, tr. Trong cuốn Từ điển Việt–Pháp (Dictionnaire Annamite-Français) xuất bản tại Sài Gòn năm 1898 có giải thích “tài tử” như sau: homme excessivement bien doué (tạm dịch: người cực kỳ tài năng); doué de beaucoup de talents (tạm dịch: có nhiều tài năng) (Génibrel, 1989, tr. Nhìn chung, cả hai cách giải thích đều muốn nhấn mạnh rằng đó phải là một người có tài năng gì đó xuất chúng. 11 Trong thế kỷ XX, quyển Hán-Việt từ điển (1957) của Đào Duy Anh chỉ định nghĩa ngắn gọn rằng “tài tử” là “người có tài”.(Nguyễn Phúc An, 2019, tr.84) Qua đó, ta có thể thấy rằng, với hai định nghĩa của Từ điển Việt–Pháp và Hán– Việt từ điển, chủ yếu người ta chỉ đi giải thích nghĩa từ nguyên của danh từ “tài tử”, với cách hiểu đơn thuần rằng “tử” là kẻ, là người nào đó, “tài” là tài năng.
Vậy “tài tử” là để chỉ một người có tài năng. Riêng với cách giải thích của Huỳnh Tịnh Của, ta có thể thấy rằng loại hình đờn ca cổ nhạc lúc mới hình thành trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, vốn dĩ ban đầu chỉ là hình thức đờn ca vui chơi trong phạm vi khép kín của những người thật sự “có tài riêng”, với mục đích giải trí, giao lưu giữa những tri âm tri kỷ với nhau. Nhưng càng về sau, khi bộ môn ca nhạc này đã được nhiều người biết đến và trở thành một bộ môn ca nhạc mang tính cách chuyên nghiệp thì nó mang thêm nét nghĩa chỉ những “nhạc công” – là những người “chuyên nghề cổ nhạc” (chuyên nghiệp ở đây hiểu là một nghề chuyên môn, thành thục). Tuy nhiên, cũng từ cách hiểu đó đã nảy sinh thêm một nét nghĩa nữa, “tài tử” là “không chuyên nghiệp” (amateur).
Sở dĩ có cách hiểu này vì có phần đông các “tài tử” tuy tay nghề rất khá, có trình độ điêu luyện không kém những người nhà nghề, nhưng sự khác biệt là họ chỉ chơi tại tư gia chứ không lấy việc đờn ca làm nghề mưu sinh, họ có thể tự do đờn ca và sáng tạo theo ý thích của bản thân, còn việc sinh nhai của họ có thể là một nghề nghiệp khác (thầy giáo, công chức, thợ thủ công…) Nhà nho Tài tử Tại Nam kỳ, như đã phân tích, Nho giáo đã ăn sâu vào trong tư tưởng của con người bản xứ, nên khi nhìn nhận về danh từ “tài tử” hoặc âm nhạc tài tử, cũng không thể tách rời nó ra khỏi hệ tư tưởng Nho giáo tại miền Nam. Danh từ tài tử trong nhạc tài tử Nam bộ vẫn xuất phát từ vấn đề tư tưởng và quan niệm Nho giáo đã ăn sâu vào trong tiềm thức cũng như đã trở thành quan niệm truyền thống người Việt (…) Do đó loại trừ vấn đề từ 12 vựng học, giải thích nghĩa từ nguyên của chữ tài tử, (…) tài tử hay nhạc tài tử là một biểu hiện của loại hình văn nghệ theo quan niệm Nho giáo. Xét lại về hình thức của loại hình nhạc tài tử, xuất phát từ âm nhạc tế tự là nhạc lễ Nam bộ, cùng với nhạc cung đình Huế, hai hình thức âm nhạc tiền thân mang đậm tính Nho giáo phong kiến, thì nhạc tài tử Nam bộ, dù không nói ra nhưng chắc hẳn đã mang trong mình tính chất ấy, nhưng khác hẳn với lối Nho giáo chính thống hiển nho ấy, thì nhạc tài tử Nam bộ đã thể hiện Nho phong của mình bằng hình thức Ẩn Nho, tức là nhà Nho tài tử”. (Nguyễn Phúc An, 2019, tr.88-89) “Nhà Nho tài tử” theo cách hiểu của Trần Ngọc Vương (2018), họ là những người “chán nản với thực tế cai trị của triều đình, bày tỏ nguyện vọng, và dấn thêm một bước nữa, là thực sự cáo quan về ẩn dật.
Ngay cả khi họ chưa đủ điều kiện để trở thành ẩn sĩ thì họ cũng đã tìm cách “giấu mình” (tr. Nhưng để hiểu rõ hơn về khái niệm “nhà Nho Tài tử”, thì cần phải hiểu về các nhà Nho. Các Nho sĩ chia làm ba dạng: một là Hiển Nho (nhà Nho hành đạo, tham gia vào việc chính trị); hai là Ẩn Nho (nhà Nho sống ẩn dật, dù đã từng hay chưa từng làm quan); ba là Hàn Nho (tuy cũng có học vấn nhưng không đỗ đạt, hoặc không làm quan nên chỉ sống chủ yếu bằng các công việc như dạy học, bốc thuốc…). Nhưng nhìn chung, ta có thể thấy có hai loại nhà Nho đối lập nhau, đó là nhà Nho chính thống (nhà Nho hành đạo và ẩn dật) và nhà Nho phi chính thống (nhà Nho Tài tử).
Có thể thấy, ngoài những nhà Nho dấn thân trên con đường hoạn lộ, một số lớn trong các nho sĩ vốn là những vị quan nhưng đã bất đắc chí nên lui về ẩn dật. Một số khác, ngay từ đầu đã không dấn thân vào hoạn lộ, lại thêm biến cố phức tạp của chính trị đã gây cho họ sự chán nản ngay từ lúc còn chưa xuất chính nhập thế. Trong số họ cũng không thiếu những người tuy thật sự tài năng, chưa bao giờ nguôi ngoai cái khát vọng được nhập thế, nhưng lại chưa thể vượt qua được cánh cổng của khoa cử nên 13 đành an phận và trở thành nhà Nho ẩn dật bất đắc dĩ. Những người như thế, dù là hiển Nho hay ẩn nho, họ cũng là những nhà Nho chân chính (xem trọng việc lập đức và kinh bang tế thế).
Những nhà Nho chính thống luôn đề cao tâm – chí – đạo – nghĩa – khí. Còn “nhà Nho Tài tử” thường cho rằng thế lộ đầy chông gai, và họ tự nhận mình là những người vụng về, lười biếng, bất tài, thậm chí là ngu dốt (mà thực chất đó chỉ là sự khiêm nhường giả tạo, kiêu ngạo đích thực) nên thường thấy những biệt danh như Lãn Ông, Ngu Ông, Chuyết Ông,… Họ tự cho mình cái quyền chỉ sống với thiên nhiên, với hoa lá cỏ cây, với tiếng suối tiếng chim. Cũng vì vậy, trong sáng tác của những nhà Nho này ta bắt gặp một thiên nhiên trữ tình, hiển nhiên còn đậm màu đạo lý, nhưng cũng không phải là sự gán ghép một cách gượng gạo quá mức. Loại nghề nghiệp mà họ thường ca tụng là ngư – tiều – canh – mục.
Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn thơ văn của các bậc danh Nho đều được viết chủ yếu trong những tháng ngày hàn vi, ẩn dật. Khi nhà Nho ẩn dật trở thành một định hướng tồn tại độc lập, văn chương ẩn dật trở thành bộ phận thứ hai của văn chương Nho giáo. Khác với sáng tác của các nhà nho hành đạo, sáng tác của người ẩn dật không bị ràng buộc vào yêu cầu giáo hóa trực tiếp. Cũng vẫn chịu sự chi phối của những quan điểm “văn dĩ tải Đạo”, “thi dĩ ngôn chí”, tuy nhiên, ở người ẩn dật, “chí” lại thường đồng nghĩa với “bất đắc chí”.
(Trần Ngọc Vương, 2018, tr.65-66) Cái phong thái tự do, tự tại, ung dung, bình thản, cái nhìn đậm đà màu sắc triết nhân của người ẩn dật không chỉ trong sáng tác mà cả trong đời sống đã tách họ ra khỏi cộng đồng xung quanh. Họ tự tách mình ra khỏi những sinh hoạt chính trị, cho bản thân là “vô can” nên thường đứng ra ngoài mọi thay đổi của xã hội. 14 Tuy cũng là kiểu sống ẩn dật, một kiểu tương tự như ẩn Nho, nhưng tâm thế của những nhà Nho Tài tử thường lơ đãng với công việc hành đạo, kinh bang tế thế. Họ thiên về việc xem trọng các thú vui cầm kỳ thi tửu, nên họ dành nhiều tâm sức để đi tìm cái đẹp với quan niệm sống phải hưởng thụ: được uống rượu, đánh cờ, ngâm thơ với gió trăng song núi… Và điểm nổi bật là ở dạng nhà Nho Tài tử, họ đề cao cái Tài và Tình (tức cái tôi cậy tài và đa tình), ngoài ra còn nhắc tới tính – du – mỹ.
Khác với những nhà Nho hành đạo được hưởng bổng lộc triều đình, các nhà Nho tài tử vì “không xuất chính, không nhận áo mũ của triều đình , không vướng bận nhiều với thân phận thần tử, lại thuộc vào loại người được triều đình miễn mọi thứ lao dịch, tô thuế, người ẩn dật “cày lấy ruộng mà ăn, đào lấy giếng mà uống” (Trần Ngọc Vương, 2018, tr.44), tức cơ sở kinh tế của họ là nền kinh tế tự cấp tự túc. Tài tử đờn Trong mỗi cuộc chơi Đờn Ca Tài tử, những Tài tử đờn có thể xem là linh hồn, không thể thiếu. Người ta có thể ngồi đờn một mình, đờn hòa tấu mà không cần người ca, nhưng người ca nếu không có người đờn họa theo thì cuộc chơi chưa thể xem là trọn vẹn. Ngày xưa, các Tài tử đờn thường được mọi người gọi là “thầy đờn”.
Bản thân những người này hiển nhiên ngoài năng khiếu ra phải có sự chăm chỉ, ham học hỏi và sự kiên trì lịch luyện các ngón đờn, các bản đờn. Hình thức học khi xưa của họ chủ yếu là truyền ngón, truyền khẩu. Những nhà khá giả có thể rước thầy về dạy kèm riêng cho con cái hoặc gửi con mình đến nhà thầy để theo học. Bản thân các thầy đờn thời đó rất được trọng vọng.
Người chơi đờn phải kiên trì theo học một thời gian dài để cho am tường hết các hơi điệu, bài bản, để khi có trình độ về âm nhạc thì họ có khả năng sáng tác thêm bài bản mới để làm phong phú thêm vốn bài bản cho loại hình này.