phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài đƣợc chia làm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT CA HUẾ CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG KHAI THÁC NGHỆ THUẬT CA HUẾ TRONG ĐỜI SỐNG VÀ TRONG DU LỊCH CHƢƠNG 3. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM BẢO TỒN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC NGHỆ THUẬT CA HUẾ TRONG DU LỊCH 18 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT CA HUẾ 1. Lịch sử hình thành và phát triển của nghệ thuật Ca Huế 1. Về tên gọi và nguồn gốc hình thành Ca Huế Theo sử liệu thì tên gọi Ca Huế xuất hiện từ năm 1687, khi chúa Nguyễn Phúc Tần chọn vùng Thừa Thiên làm kinh đô Huế. Tác giả Ƣng Bình Thúc Giạ (1877-1961), đã viết: "Gọi là Ca Huế, vì thanh âm người Huế hợp với điệu ca này, mà xứ Huế như người Quảng Trị với Quảng Bình cũng ca được, còn từ Linh Giang dĩ Bắc, Hải Vân quan dĩ Nam đều có người ca, mà ca giỏi thế nào cũng có nơi trạy bẹ, ấy là câu chuyện ai cũng biết rồi.
Điệu ca khởi điểm từ thời nào, thời khởi điểm từ thời Hiếu Minh (chúa Nguyễn, về hệ bảy, thế kỷ 17)[32]. Ca Huế, hiểu theo nghĩa hẹp, gồm đàn Huế và ca Huế. Ngoài ra còn có thể gọi là Ca nhạc Huế. Về xuất xứ trực tiếp của ca nhạc Huế, có thể thấy đó là một loại âm nhạc mang nhiều màu sắc địa phƣơng.
Nhạc điệu và nhất là giọng Ca Huế rõ ràng là phát sinh từ tiếng nói, giọng nói của ngƣời xứ Huế. Không thể Ca Huế với giọng Bắc, giọng Nghệ, giọng Quảng, hay giọng Nam Bộ, mà nhất thiết phải với giọng Huế của ngƣời Huế - Trị Thiên. Vậy tên gọi của nó đã nói lên rằng quê hƣơng của ca nhạc Huế chính là xứ Huế, tức là vùng Thuận Hóa cũ, vùng kinh đô của Phú Xuân ngày trƣớc. Sau này, vì cùng trong một vùng phát âm, ngƣời Quảng Trị cũng có nhiều đóng góp cho sự phát triển của Ca Huế, nâng Ca Huế trở thành một nghệ thuật mang tính địa phƣơng sâu sắc, đóng góp vào vƣờn hoa nghệ thuật đầy sắc màu rực rỡ của dân tộc.
Theo nhận xét của Hoàng Thị Châu về việc phân vùng ngôn ngữ, thì về cơ bản, Huế nói “giọng miền Trung”. Tuy nhiên "giọng miền Trung" của Huế có những đặc điểm riêng, do nguồn gốc xuất phát của những lƣu dân đi đến những vùng đất mới. Vùng Bình Trị Thiên về cơ bản là dân Nghệ Tĩnh vào theo con đƣờng thẩm thấu dần từ đời Trần. Chính thế mà phƣơng ngữ Nghệ Tĩnh và phƣơng ngữ Bình Trị Thiên có những đặc điểm giống nhau.
Riêng tiếng Huế mang nhiều sắc thái mới của phƣơng ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Về âm vực, có nhà nghiên cứu 19 nhận xét rằng, hai vùng Quảng Trị và Thừa Thiên có âm vực thuộc loại cạn và hẹp nhất nƣớc. Do ảnh hƣởng của các giọng nói địa phƣơng nên khi hò ngƣời ta cũng phát âm theo giai điệu riêng của từng vùng. Một nhà nghiên cứu âm nhạc cho rằng: Ngƣời Việt ở miền Bắc vốn quen dùng các ngũ cung đúng ( đo, ré, fa, sol, la), ngƣời miền Nam quen dùng giai điệu nằm trong ngũ cung hơi Nam giọng oán ( do, mi, fa ( già), sol, la) ngƣời Thừa Thiên Huế dùng ngũ cung “ hơi Nam giọng ai” ( do, re ( non), fa ( già), sol, la ( non).
Ngũ cung hơi Nam giong ai là nét đặc trƣng của nghệ thuật diễn xƣớng Thừa Thiên Huế. Nó toát ra một âm hƣởng xa xôi, huyền bí, đầy tính trữ tình và có thể nói với đặc tính "cạn và hẹp" giọng nói Huế đã để lại dấu vết trong đƣờng nét giai điệu Ca Huế một tính chất đặc hữu, khác với dân ca nhạc cổ từ đèo Ngang trở ra và từ Hải Vân trở vào. Tuy nhiên, dù có nhiều tên gọi khác nhau, dù có cả Ca cả Đàn trong đó, các nhà nghiên cứu vẫn thống nhất rằng: không cần thiết phải gọi là “Ca nhạc Huế” thay cho tên gọi đã trở thành quen thuộc là “Ca Huế”. Ca Huế đã tồn tại trong truyền thống nhƣ tên gọi ca Trù (hay là hát Ả đào), là một thể tài chuyên nghiệp luôn đi kèm với nhạc cụ.
Ca nhạc Huế cũng không thể bị hiểu nhầm là toàn bộ nền ca nhạc tại Huế, cả quá khứ lẫn đƣơng thời, cả nhạc cổ truyền (dân ca, ca Huế, ca nhạc cung đình, âm nhạc tín ngƣỡng) lẫn tân nhạc (một khối lƣợng lớn các bài hát mới sáng tác về Huế, sáng tác trên chất liệu âm nhạc Huế). Có thể khẳng định, Ca Huế là loại nhạc. Tuy nhiên, tìm hiểu nguồn gốc và thời điểm phát sinh thì có nhiều ý kiến khác nhau. Nhà nghiên cứu Văn Lang trong “Ca Huế và ca kịch Huế” nêu ý kiến về nguồn gốc và thời điểm phát sinh ca Huế: “Nếu xác định rằng dưới triều Lý, hát tuồng đang trên đường hình thành mà nhạc nhạc cung đình, thì chúng ta có thể nói nhạc 20.
Do vậy cho phép chúng tôi được nói ca nhạc Huế (tức ca nhạc [32]. Cứ thế, ca nhạc nói đến. Nguyễn Hoàng, con trai Nguyễn Kim - phải vận động xin vào trấn thủ Thuận Hóa (năm 1558) và kiêm trấn thủ Quảng Nam (năm 1570). đẩy mạnh công cuộc khai hoang với điều kiện kinh tế ở Thuận Hóa ngày càng đƣợc phát triển, đồng thời gặp mảnh đất giàu có về thơ ca đầy chất trữ tình, ca nhạc cổ sau khi quy tụ ở đây càng có điều kiện phát triển phong phú, dần dần đƣợc hình thành rõ nét và trở nên hoàn chỉnh.
Thái Văn Kiểm trong “Cố đô Huế” cũng cho rằng: “C Chu, tức là Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế (1691 - 1725)”[32] Lê Văn Hảo lại cho rằng: ca nhạc Huế là vào khoảng t. Giữa thế kỷ XVIII, ca múa nhạc đã phát triển phong phú tại đô thành Phú Xuân”[32]. Văn Thanh, trong thay lời tựa sách “Tìm hiểu ca Huế và dân ca Bình Trị Thiên” khẳng định: , nhưng vào khoảng những năm của thập niên 20 cho đến khi thế chiến thứ hai bùng nổ”[32]. Giáo sƣ Trần Văn Khê cũng cho rằng đây là loại quan nhạc chứ không phải là loại dân nhạc[32].
21 Qua các ý kiến trên, chúng ta nhận thấy đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất ca Huế hình thành vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, dƣới thời chúa Nguyễn Phúc Chu cầm quyền (1691 - 1725) và Ca Huế có nguồn gốc từ nhạc cung đình; riê. Nhƣng dù ý kiến về thời điểm phát sinh có khác nhau, song có thể thấy rằng ngọn nguồn sâu xa của một thể loại âm nhạc nhạc của dân tộc đó. Ca nhạc Huế không ra ngoài quy luật ấy. Vì thế, ngọn nguồn hình thành đầu tiên của Ca Huế chính là dòng âm nhạc chuyên nghiệp của cƣ dân Việt, vốn manh nha trong các thời Lý, Trần, Lê, đã vào xứ Huế qua các cuộc di dân của ngƣời Việt ở Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa và miền đồ.
Có lẽ do ngọn nguồn này mà sau một thời kỳ phát triển mạnh mẽ ở cung đình trong các sinh hoạt ca hát vui chơi của tầng lớp thống trị, Ca Huế lại trở thành phổ biến ở dân gian. Nó trở về với dân gian do tự bản thân đã chan hòa tình cảm lắng đọng và tràn đầy dân tộc tính. Ngọn nguồn thứ ba của Ca Huế chính là thú thƣởng ngoạn âm nhạc cung đình mà các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã tiếp nối truyền thống thƣởng thức âm nhạc ở Đàng Ngoài mà cho tổ chức các buổi ca nhạc ở phủ chúa hoặc gia đình của các bậc vƣơng công. Nhƣng nhƣ vậy chƣa đủ để nói về nguồn gốc hình thành của Ca Huế.
Trong Ca Huế ngƣời ta còn phảng phất thấy bóng dáng của âm nhạc Chăm Pa cũng nhƣ của âm nhạc Trung Hoa. Tóm lại, trong Ca Huế ngƣời ta thấy âm hƣởng của nhiều loại hình âm nhạc, từ cung đình đến dân gian, từ dân dã đến bác học. Ngƣời ta cũng tìm thấy trong Ca Huế sự kết hợp tài tình của Ca từ, của nhạc cụ và của nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp, từ chỗ chỉ là thể loại ca nhạc thính phòng, ca nhạc Huế đã phát triển đến đỉnh cao, đƣợc truyền bá rộng trong dân gian, đƣợc nhân dân bổ sung những điệu Hò, điệu Lý. và đƣợc sân khấu hóa nhƣ các loại hình sân khấu khác.
Do đó, có thể nói hiếm có bộ môn nghệ thuật truyền thống nào của dân tộc có đƣợc sự độc đáo, đặc sắc 22 và phong phú nhƣ thế, và cũng hầu nhƣ không có bộ môn nghệ thuật nào có thể đáp ứng đa dạng thị hiếu của mọi tầng lớp ngƣời thƣởng thức, nhƣ Ca Huế. Vài nét về quá trình phát triển Ca Huế Cho đến nay, vẫn chƣa có học giả nào có thể khẳng định một cách chắc chắn Ca Huế ra đời từ bao giờ, song tất cả đều đồng ý với nhau ở một luận điểm: Cái tên Ca Huế chỉ có thể chính thức đƣợc biết đến bắt đầu từ thế kỷ XVII, và ngƣời ta cũng xem đây là khoảng thời gian quan trọng hình thành nên thể tài Ca Huế với những đặc điểm nhƣ chúng ta thấy hiện nay. Do đó, theo tác giả Tôn Thất Bình, có thể tạm thời phân chia quá trình phát triển của Ca Huế theo các giai đoạn sau: 1. Giai đoạn hình thành và phát triển ban đầu (cuối TK XVII - cuối TK XVIII) T ú Xuân, nơi đặt thủ phủ của các chúa Nguyễn, thuộc phía Nam kinh thành Huế hiện nay, các điệu Ca Huế đã lần hồi xuất hiện.
Ngay sau đó, các điệu nổi tiếng nhƣ: Cổ bản, Phú lục, Nam ai, Nam bình đã lƣu hành rộng rãi trong dinh phủ chúa. Ca Huế là một bộ môn nghệ thuật độc đáo bởi lẽ không phải ai ca cũng đúng giọng đ. Ở thời kỳ này, trong âm nhạc truyền thống của ta đã có điệu Bắc và điệu Nam, mà đó là hai hình thức chính của Ca Huế. Các nhạc khí cơ bản của Ca Huế nhƣ đàn tranh, đàn nguyệt, đàn nhị, đàn tỳ bà, đàn tam, sáo và sênh đều có mặt.
Vào giữa thế kỷ XVIII, Luân Quốc Công Nguyễn Phúc Tứ - em của Nguyễn Phúc Khoát ba cây đàn cầm, đàn sắt và đàn tỳ bà, mà chế ra một cây đàn nam cầm 4 dây, thùng dày và vuông, cầm dài 120cm để nhấn nhịp cho đúng với các điệu nam. Ở thế kỷ XIX, đàn nam cầm là một nhạc khí quan trọng trong ca nhạc Huế, về sau cây đàn này đã thất truyền, chỉ còn biến thể dƣới dạng 2 dây và thƣờng đƣợc biết đến dƣới tên đàn nguyệt.