Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục tiểu học, môn Tiếng Việt giữ vai trò nền tảng trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ và bồi dưỡng nhân cách cho học sinh. Bên cạnh mảng văn học dân gian Việt Nam, truyện dân gian nước ngoài được đưa vào chương trình như một phương tiện giáo dục đặc thù, mở ra cánh cửa giúp học sinh tiếp xúc với bức tranh đời sống, phong tục, tập quán và giá trị văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới. Xuất phát từ bối cảnh giao lưu và hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng, việc trang bị cho học sinh những hiểu biết về thế giới nhân loại ngay từ bậc học nền tảng là một yêu cầu thực tiễn cấp thiết. Tuy nhiên, việc khai thác giá trị giáo dục đạo đức và thẩm mỹ từ mảng tác phẩm này trong nhà trường tiểu học vẫn còn những hạn chế nhất định về phương pháp tiếp cận và tài liệu hướng dẫn.

Nhận thức được khoảng trống nghiên cứu và yêu cầu thực tiễn đó, tác giả Nguyễn Minh Thu đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Giáo dục Tiểu học tại Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội (năm 2018) với đề tài: "Giá trị của truyện dân gian nước ngoài với học sinh Tiểu học", dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Vũ Thị Thương.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm hai nhiệm vụ chính:

  1. Xây dựng nguồn tư liệu nghiên cứu cho bản thân về giá trị giáo dục của các tác phẩm truyện dân gian trong chương trình Tiểu học nói chung và truyện dân gian nước ngoài nói riêng.
  2. Cung cấp hệ thống tư liệu tham khảo phục vụ giảng viên, đồng nghiệp và sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học trong việc tiếp cận, phân tích và giảng dạy mảng truyện dân gian nước ngoài.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giá trị nội dung, tư tưởng và ý nghĩa giáo dục của truyện dân gian nước ngoài đối với học sinh tiểu học. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong các tác phẩm truyện dân gian nước ngoài (bao gồm truyện thần thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười) đang được đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 của chương trình Tiểu học hiện hành tại thời điểm nghiên cứu (năm học 2017 - 2018).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm nền tảng về văn học dân gian, đặc trưng thể loại của truyện cổ dân gian và các công trình nghiên cứu chuyên ngành phương pháp dạy học Tiếng Việt:

  • Khung lý thuyết và khái niệm: Tác giả tiếp thu các quan niệm học thuật trong giáo trình Văn học (Tài liệu đào tạo giáo viên Tiểu học trình độ Cao đẳng và Đại học Sư phạm) do Cao Đức Tiến chủ biên; chuyên khảo Vẻ đẹp của các tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình Tiếng Việt 1, 2, 3 của ThS. Phạm Thị Phương Liên; cùng các công trình nghiên cứu liên quan của Đỗ Việt Nga, Nguyễn Thị Oanh, Bùi Hải Yến và bài viết lý luận về văn học thiếu nhi của Vũ Thị Huyền.
  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập, phân loại, đọc và phân tích các văn bản truyện dân gian nước ngoài trong sách giáo khoa Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5; tổng hợp tài liệu từ sách báo, giáo trình để khái quát cơ sở lý luận về đặc trưng thể loại, nhân vật, cốt truyện và ngôn ngữ.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đi sâu phân tích ngữ liệu văn bản cụ thể nhằm làm sáng tỏ các tầng giá trị giáo dục đạo đức, nhân văn và thẩm mỹ, từ đó đúc kết thành các nhóm chuẩn mực đạo đức đối với học sinh tiểu học.
  • Phương pháp thống kê, phân loại: Khảo sát toàn bộ các văn bản tập đọc và kể chuyện trong chương trình Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 để lập danh mục, xác định tần số xuất hiện và tỷ lệ phần trăm của truyện dân gian nước ngoài so với tổng thể chương trình.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Xây dựng 3 kế hoạch bài dạy (giáo án) phân môn Tập đọc và Kể chuyện cho các tác phẩm truyện dân gian nước ngoài để tiến hành dạy thực nghiệm, qua đó kiểm chứng mức độ tiếp nhận và tác động giáo dục đối với học sinh.
  • Phương pháp quan sát, dự giờ: Dự giờ các tiết dạy Tập đọc và Kể chuyện của giáo viên tiểu học nhằm đánh giá thực trạng tổ chức dạy học và khả năng cảm thụ tác phẩm của học sinh.

Nguồn dữ liệu chính của nghiên cứu bao gồm bộ sách giáo khoa Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 (chương trình tiểu học), các tài liệu giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học và hồ sơ kết quả dạy thực nghiệm tại trường tiểu học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về giá trị của đề tài

Chương này tập trung xác định bản chất thể loại, vị trí giáo dục của truyện dân gian nước ngoài, đồng thời tiến hành khảo sát thực trạng ngữ liệu trong chương trình Tiểu học.

Về mặt lý luận, tác giả khẳng định truyện dân gian phản ánh sinh hoạt, lao động, tư tưởng, tình cảm và khát vọng của nhân dân lao động. Khi được đưa vào nhà trường tiểu học, truyện dân gian nước ngoài giữ vai trò bồi dưỡng tâm hồn, mở rộng thế giới quan và hình thành nhận thức ban đầu về sự đa dạng văn hóa nhân loại cho học sinh từ 6 đến 10 tuổi.

Về mặt ngữ liệu, tác giả lập bảng thống kê toàn diện về sự hiện diện của truyện dân gian nước ngoài trong sách giáo khoa Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5:

Khối lớp Số lượng bài Tỉ lệ trong chương trình lớp
Lớp 1 6 / 48 bài 13%
Lớp 2 6 / 83 bài 7%
Lớp 3 2 / 93 bài 2%
Lớp 4 3 / 56 bài 5%
Lớp 5 1 / 69 bài 1%
Tổng cộng 18 / 349 bài 5%

Dựa trên số liệu khảo sát, tác giả rút ra các đặc điểm nổi bật của mảng tác phẩm này:

  • Về thể loại: Bao gồm truyện cổ tích (Cô bé trùm khăn đỏ, Bông hoa cúc trắng, Một trí khôn hơn trăm trí khôn), truyện ngụ ngôn (Rùa và Thỏ, Kho báu, Bác sĩ Sói), truyện thần thoại (Điều ước của vua Mi-đát), truyện dân gian lịch sử - sinh hoạt (Đất quý, đất yêu, Một nhà thơ chân chính, Thuần phục sư tử, Bác đánh cá và gã hung thần), và truyện vui (Thêm sừng cho ngựa, Cá sấu sợ cá mập).
  • Về nhân vật: Tồn tại song song hai tuyến nhân vật thiện - ác; hệ thống nhân vật bao gồm người lớn, trẻ em, nhân vật thần kỳ/siêu nhiên (thần gió, hung thần, bà tiên), tầng lớp vua chúa, người lao động nghèo và đặc biệt là hệ thống loài vật được nhân hóa (thỏ, rùa, sói, chuột nhắt, sư tử).
  • Về ngôn ngữ: Dung lượng văn bản ngắn gọn, kết cấu sáng sủa, từ ngữ gần gũi, giàu hình ảnh gợi tả, tên riêng phần lớn được phiên âm tiếng Việt nhằm hỗ trợ học sinh dễ đọc và ghi nhớ.

Chương 1 cũng phân tích những thuận lợi và khó khăn trong dạy học thực tế. Thuận lợi đến từ sự hấp dẫn của cốt truyện kì ảo, nhận thức trực cảm ngây thơ của trẻ và trình độ chuẩn hóa của đội ngũ giáo viên. Khó khăn xuất phát từ việc phân bố ngữ liệu mất cân đối (tập trung 12/18 bài ở lớp 1 và lớp 2, trong khi lớp 5 chỉ có 1 bài), năng lực ngoại ngữ và hiểu biết văn hóa thế giới của giáo viên còn hạn chế, tài liệu tham khảo dịch thuật thiếu thốn, và học sinh nhỏ tuổi dễ nhầm lẫn giữa chi tiết thần kỳ với hiện thực đời sống. Cuối chương, tác giả dành dung lượng giới thiệu đặc trưng văn học dân gian Nga (truyện loài vật, cổ tích thần kỳ, truyện sinh hoạt qua ví dụ Ông già Tuyết, Nhổ củ cải) và truyện dân gian Ả Rập qua tập truyện cổ Nghìn lẻ một đêm (Aladdin và cây đèn thần, Ali Baba và 40 tên cướp, Thủy thủ Sinbad).

Chương 2: Giá trị của các tác phẩm truyện dân gian nước ngoài ở Tiểu học

Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, đi sâu phân tích hệ thống giá trị giáo dục nhân cách và chuẩn mực xã hội được chuyển tải qua các tác phẩm cụ thể:

  1. Phản ánh những quan hệ đạo đức giữa con người với con người:
  • Chuẩn mực đạo đức trong phạm vi gia đình: Tình cảm cha mẹ lo lắng, định hướng tương lai cho con cái được thể hiện qua Kho báu (ngụ ngôn Ê-dốp); lòng hiếu thảo, đức hy sinh không quản ngại gian khổ của con cái chữa bệnh cho mẹ trong Bông hoa cúc trắng (cổ tích Nhật Bản); bài học vâng lời cha mẹ, cảnh giác trước cạm bẫy trong Cô bé trùm khăn đỏ (truyện cổ Pê-rô); đức tính kiên nhẫn, dịu dàng, khôn khéo của người vợ gìn giữ hòa khí gia đình trong Thuần phục sư tử (truyện dân gian Ả Rập).
  • Chuẩn mực đạo đức trong phạm vi nhà trường: Bài học về đức tính khiêm tốn, phê phán sự chủ quan, kiêu ngạo và khẳng định giá trị của sự kiên trì trong Rùa và Thỏ (La Phông-ten); phê phán thái độ thiếu chung thủy, thay lòng đổi dạ dẫn đến sự cô độc qua truyện Cô chủ không biết quý trọng tình bạn (V. Oseeva).
  • Chuẩn mực đạo đức trong cộng đồng xã hội: Tinh thần tương trợ, tri ân và giữ lời hứa giữa các cá nhân không phân biệt kẻ mạnh - người yếu qua truyện Sư tử và chuột nhắt (Lép Tôn-xtôi); sự lễ phép, văn minh trong giao tiếp ứng xử thường nhật được khắc họa qua Hai tiếng kỳ lạ (V. Oseeva).
  1. Phản ánh mối quan hệ giữa con người với môi trường sống và lao động:
  • Giáo dục tình yêu quê hương, đất nước và ý thức trân trọng từng tấc đất thiêng liêng qua phong tục của người dân trong Đất quý, đất yêu (truyện dân gian Ê-ti-ô-pi-a); tinh thần lao động chinh phục và sống hòa hợp với thiên nhiên trong Ông Mạnh thắng Thần Gió.
  • Giáo dục thái độ đối với lao động: Khẳng định bàn tay lao động cần cù là nguồn cội của ấm no hạnh phúc (Kho báu); ca ngợi trí thông minh, bản lĩnh mưu trí của người lao động trước các thế lực hung hãn (Bác đánh cá và gã hung thần).
  1. Phản ánh mối quan hệ giữa cá nhân và sự phát triển xã hội:
  • Giáo dục bài học tu thân, phê phán lòng tham lam vô độ hủy hoại cuộc sống qua Điều ước của vua Mi-đát (thần thoại Hy Lạp); ngợi ca khí phách trung thực, thà hy sinh tính mạng chứ không bẻ cong ngòi bút trước cường quyền trong Một nhà thơ chân chính (truyện dân gian Nga).

Chương 3: Bước đầu suy nghĩ về cách dạy các tác phẩm truyện dân gian cho học sinh trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học

Chương 3 trình bày giải pháp sư phạm và kết quả kiểm chứng thực nghiệm:

  • Thiết kế thực nghiệm: Tác giả xây dựng 3 giáo án thực nghiệm phân môn Tập đọc và Kể chuyện cho các văn bản truyện dân gian nước ngoài. Hoạt động dạy học tập trung vào việc dẫn dắt học sinh tiếp cận cốt truyện, phân tích tâm lý, hành động của nhân vật, từ đó khơi gợi cho học sinh tự rút ra bài học nhận thức và liên hệ hành vi thực tế.
  • Kết quả thực nghiệm: Thực nghiệm bước đầu cho thấy học sinh tỏ ra hào hứng, tiếp thu tốt cốt truyện và nắm bắt được các thông điệp đạo đức cốt lõi khi giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở, đàm thoại và thảo luận thay vì áp đặt thuyết giảng một chiều.
  • Đề xuất phương pháp: Tác giả kiến nghị vận dụng phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm; tích hợp kể chuyện theo tranh và đóng vai; chú trọng khâu giải nghĩa từ và cung cấp bối cảnh văn hóa ngắn gọn, dễ hiểu; điều chỉnh cách thức tổ chức bài học phù hợp với từng lứa tuổi (chú trọng tính sinh động, trực quan ở lớp 1-2 và phát triển năng lực đánh giá, cảm thụ chiều sâu ở lớp 4-5).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên dữ liệu văn bản:

  1. Xác lập bảng thống kê ngữ liệu: Đã định lượng chính xác diện mạo truyện dân gian nước ngoài trong toàn bộ chương trình Tiếng Việt Tiểu học gồm 18 bài trên tổng số 349 bài (tỷ lệ 5%), chỉ rõ cơ cấu phân bố qua từng khối lớp (Lớp 1: 13%, Lớp 2: 7%, Lớp 3: 2%, Lớp 4: 5%, Lớp 5: 1%).
  2. Hệ thống hóa các tầng giá trị giáo dục: Khóa luận phân tích có hệ thống 4 nhóm quan hệ chuẩn mực được phản ánh trong truyện dân gian nước ngoài: quan hệ gia đình, quan hệ học đường, quan hệ cộng đồng - xã hội, và quan hệ giữa con người với lao động, môi trường sống.
  3. Phát hiện bất cập trong chương trình: Chỉ ra sự bất hợp lý trong phân phối cấu trúc chương trình khi dồn phần lớn truyện dân gian nước ngoài vào lớp 1 và lớp 2 (chiếm 12/18 bài) khi học sinh mới học đọc, tư duy phân tích chưa cao; ngược lại, ở lớp 4 và lớp 5 khi học sinh có khả năng tiếp nhận chiều sâu văn hóa thì số lượng tác phẩm lại quá ít (lớp 5 chỉ có duy nhất 1 bài).
  4. Đóng góp về phương pháp dạy học: Đề xuất định hướng giảng dạy phù hợp đặc trưng thể loại, xây dựng và thử nghiệm thành công 3 giáo án phân môn Tập đọc, Kể chuyện giúp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do điều kiện thực hiện:

  • Tác giả tự nhận định do thời gian, kiến thức và kỹ năng ban đầu của sinh viên còn hạn chế nên nguồn tư liệu khảo sát có phần "xanh non", chưa thể tiếp cận văn bản nguyên ngữ bằng tiếng nước ngoài mà hoàn toàn phụ thuộc vào bản dịch tiếng Việt.
  • Quy mô thực nghiệm sư phạm còn hẹp, mới dừng lại ở việc thiết kế và giảng dạy thử nghiệm 3 giáo án cụ thể, chưa tổ chức khảo sát diện rộng hoặc thực hiện đo lường định lượng mức độ chuyển biến hành vi của học sinh qua thời gian dài.
  • Khóa luận khảo cứu trên bộ sách giáo khoa Tiếng Việt hiện hành tại thời điểm 2018 (chương trình 2000), chưa bao quát được các định hướng đổi mới của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ đề tài: mở rộng nghiên cứu đối sánh truyện dân gian nước ngoài ngoài sách giáo khoa nhằm xây dựng danh mục đọc mở rộng cho học sinh tiểu học; nghiên cứu sâu hơn về phương pháp chuyển tải các yếu tố khác biệt văn hóa trong truyện dân gian quốc tế khi giảng dạy cho học sinh Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn đối với:

  • Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học: Là tài liệu tham khảo trực tiếp khi học tập các học phần Văn học trẻ em, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, cũng như khi thực hiện khóa luận tốt nghiệp về phân môn Tập đọc, Kể chuyện.
  • Giáo viên tiểu học: Cung cấp hệ thống ngữ liệu đã được phân loại chi tiết theo chủ điểm, tác giả, ý nghĩa giáo dục, giúp giáo viên nắm bắt nhanh trọng tâm bài dạy và khai thác đúng giá trị giáo dục đạo đức khi soạn giáo án các bài đọc truyện dân gian nước ngoài.
  • Các nhà nghiên cứu và biên soạn chương trình: Phần nhận xét về sự chênh lệch phân bố ngữ liệu giữa các khối lớp cung cấp thêm góc nhìn thực tế cho việc sắp xếp độ khó và dung lượng văn bản văn học dịch trong sách giáo khoa.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận khảo sát được bao nhiêu tác phẩm truyện dân gian nước ngoài trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học?

Tác giả thống kê được tất cả 18 tác phẩm truyện dân gian nước ngoài trên tổng số 349 bài tập đọc, kể chuyện của chương trình Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5, chiếm tỷ lệ chung là 5%.

Sự phân bố các tác phẩm truyện dân gian nước ngoài giữa các khối lớp có điểm gì đáng chú ý?

Các tác phẩm phân bố không đồng đều: tập trung nhiều nhất ở lớp 1 (6 bài, chiếm 13%) và lớp 2 (6 bài, chiếm 7%); giảm mạnh ở lớp 3 (2 bài, chiếm 2%), lớp 4 (3 bài, chiếm 5%) và lớp 5 chỉ có duy nhất 1 bài (chiếm 1%, tác phẩm Thuần phục sư tử). Tác giả nhận định sự phân bổ này chưa thực sự hợp lý vì lớp 1-2 nhận thức còn non nớt lại học quá nhiều, trong khi lớp 4-5 có khả năng cảm thụ sâu sắc hơn thì số lượng bài lại quá ít.

Giá trị giáo dục chuẩn mực gia đình được thể hiện qua những tác phẩm cụ thể nào?

Chuẩn mực gia đình được phân tích qua 4 tác phẩm tiêu biểu: Kho báu (ngụ ngôn Ê-dốp - tình cảm, sự lo lắng của cha mẹ cho con cái); Bông hoa cúc trắng (cổ tích Nhật Bản - lòng hiếu thảo của con cái); Cô bé trùm khăn đỏ (truyện cổ Pê-rô - bài học vâng lời người lớn); và Thuần phục sư tử (truyện dân gian Ả Rập - sự kiên nhẫn, dịu dàng của người vợ để giữ gìn hạnh phúc gia đình).

Tác giả đã thực hiện thực nghiệm sư phạm với quy mô và nội dung như thế nào?

Tác giả đã xây dựng 3 giáo án thực nghiệm phân môn Tập đọc và Kể chuyện cho các bài học truyện dân gian nước ngoài, tiến hành dạy thực nghiệm tại trường tiểu học bằng việc đổi mới phương pháp, tăng cường câu hỏi đàm thoại gợi mở, tổ chức đóng vai để học sinh tự khám phá ý nghĩa bài học thay vì truyền thụ thụ động.

Giáo viên tiểu học gặp những khó khăn gì khi dạy mảng truyện dân gian nước ngoài theo phân tích của tác giả?

Khóa luận chỉ ra 4 khó khăn chính: trình độ ngoại ngữ của giáo viên hạn chế nên không đọc được nguyên bản; tài liệu tham khảo chuyên sâu về văn hóa nước ngoài còn thiếu; phương pháp dạy học dễ rập khuôn theo cách dạy văn học trong nước; và tên nhân vật, địa danh nước ngoài phiên âm gây trở ngại cho học sinh nhỏ tuổi khi ghi nhớ và đọc đúng.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Minh Thu đã làm rõ toàn diện vị trí, đặc điểm và hệ thống giá trị giáo dục đạo đức, thẩm mỹ của 18 tác phẩm truyện dân gian nước ngoài trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học. Bằng việc kết hợp giữa thống kê ngữ liệu, phân tích văn bản và thực nghiệm 3 kế hoạch bài dạy, công trình đã chỉ ra được những bất cập trong việc phân bố bài học giữa các khối lớp, đồng thời đề xuất các định hướng đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy học sinh làm trung tâm. Đây là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên và giáo viên tiểu học trong việc khai thác các bài học làm người giàu tính nhân văn từ kho tàng văn hóa nhân loại.