Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở tỉnh Ninh Bình

Luận văn phân tích toàn diện thực trạng và giải pháp phát triển du lịch bền vững tại Ninh Bình, khai thác tiềm năng và bảo vệ môi trường.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng Giảng viên Lí luận Chính trị

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

87
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Du lịch bền vững Ninh Bình Khái niệm và tầm quan trọng

Du lịch bền vững là một hướng phát triển kinh tế hiện đại, kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Tại Ninh Bình, du lịch bền vững không chỉ là xu hướng toàn cầu mà còn là yêu cầu cấp thiết để khai thác tiềm năng du lịch của vùng đất cố đô Hoa Lư. Ngành du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc tăng thu ngoại tệ, cân bằng cán cân thanh toán, tạo việc làm và nâng cao mức sống cho cộng đồng địa phương. Phát triển du lịch bền vững ở Ninh Bình theo nguyên tắc đảm bảo sự hài hoà giữa khai thác tài nguyên du lịch, phát triển cơ sở hạ tầng và bảo tồn giá trị văn hoá, lịch sử đặc sắc của tỉnh.

1.1. Khái niệm du lịch bền vững

Du lịch bền vững là phát triển du lịch trên nền tảng bảo vệ môi trường tự nhiên, giữ gìn di sản văn hoá và đảm bảo lợi ích kinh tế xã hội cho cộng đồng địa phương. Tại Ninh Bình, khái niệm này liên quan đến việc khai thác tài nguyên thiên nhiên và lịch sử một cách hợp lý, tránh làm ảnh hưởng xấu đến môi trường và cuộc sống của người dân. Nó đề cao sự phối hợp giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường.

1.2. Vai trò kinh tế xã hội của du lịch

Du lịch bền vững ở Ninh Bình góp phần thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác như dịch vụ, thương mại, nông nghiệp. Ngành du lịch tạo việc làm trực tiếp và gián tiếp cho hàng chục ngàn người dân, nâng cao mức sống và cải thiện kết cấu hạ tầng. Ngoài ra, du lịch còn giúp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá, lịch sử, góp phần vào sự phát triển toàn diện của tỉnh.

II. Tiềm năng phát triển du lịch bền vững tại Ninh Bình

Ninh Bình sở hữu những tiềm năng vô cùng phong phú để phát triển du lịch bền vững. Vị trí địa lý chiến lược nằm ở cực Nam của vùng Đồng bằng sông Hồng, gần Hà Nội, tạo lợi thế về giao thông và tiếp cận khách du lịch. Tài nguyên thiên nhiên đa dạng với những danh lam thắng cảnh như Vịnh Hạ Long hạ của Trang An, núi Mua, hang động kỳ vỹ. Bên cạnh đó, Ninh Bình là cái nôi của nền văn minh Việt Nam với di tích Hoa Lư - thủ đô cổ của nước Việt, các di tích Phật giáo và Thiên chúa giáo. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đang từng bước được hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch bền vững ở Ninh Bình.

2.1. Tài nguyên thiên nhiên và khí hậu

Ninh Bình sở hữu cảnh quan tự nhiên tuyệt đẹp với các danh lam thắng cảnh như Trang An, Mua Hang, Cúc Phương. Khí hậu ôn hoà, thích hợp cho du lịch quanh năm. Các hang động kỳ vỹ, dòng sông Ngô Đồng huyền ảo tạo nên những điểm thu hút du lịch sinh thái độc đáo. Đây là nền tảng vô cùng quan trọng để phát triển du lịch bền vững trong điều kiện bảo vệ và tôn trọng thiên nhiên.

2.2. Di sản văn hoá lịch sử

Ninh Bình là nơi có di tích lịch sử Hoa Lư - cố đô có giá trị văn hoá sâu sắc, các đền, chùa cổ như Bái Đính, Tràng An. Giá trị tâm linh qua Phật giáo và Thiên chúa giáo tạo nên sức hút du lịch văn hoá - lịch sử. Những di sản này là kho tàng quý báu, cần được bảo tồn và khai thác bền vững để phục vụ du lịch bền vững ở Ninh Bình một cách lâu dài.

III. Thực trạng phát triển du lịch bền vững ở Ninh Bình giai đoạn 2000 2011

Giai đoạn 2000-2011 là thời kỳ khởi động và tăng trưởng của du lịch Ninh Bình. Số lượng khách du lịch tăng từng năm, cơ sở lưu trú được mở rộng và hiện đại hoá, doanh thu ngành du lịch tăng trưởng ấn tượng. Tuy nhiên, du lịch bền vững ở Ninh Bình vẫn gặp phải những hạn chế đáng kể. Chất lượng nguồn lao động còn thấp, nhiều cán bộ quản lý thiếu kiến thức về phát triển bền vững. Công tác quy hoạch du lịch còn chưa toàn diện, một số địa điểm du lịch bị tác động tiêu cực đến môi trường. Cơ sở hạ tầng giao thông, dịch vụ cộng cộng còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Tuyên truyền quảng bá du lịch còn hạn chế, chưa tiếp cận được các thị trường khách du lịch quốc tế.

3.1. Những thành công chủ yếu

Du lịch Ninh Bình từ năm 2000-2011 đạt được những thành công đáng ghi nhận với lượng khách tăng liên tục, doanh thu ngành du lịch tăng đáng kể. Cơ sở lưu trú từ khách sạn, nhà nghỉ được mở rộng ở các điểm du lịch chính. Một số dự án du lịch sinh thái được triển khai, cơ sở hạ tầng được cải thiện. Nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của du lịch bền vững dần được nâng cao thông qua các chương trình tuyên truyền.

3.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Những hạn chế của du lịch bền vững ở Ninh Bình bao gồm: chất lượng lao động thấp, thiếu kỹ năng phục vụ; quy hoạch du lịch chưa bền vững; ô nhiễm môi trường tại một số điểm du lịch; cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng; quảng bá du lịch còn yếu. Nguyên nhân chủ yếu do thiếu vốn đầu tư, hạn chế về kiến thức quản lý bền vững, và sự phối hợp giữa các bộ, ngành chưa hiệu quả.

IV. Giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Ninh Bình giai đoạn 2012 2020

Để phát triển du lịch bền vững ở Ninh Bình một cách hiệu quả, cần thực hiện một số giải pháp toàn diện. Thứ nhất, hoàn chỉnh công tác quy hoạch du lịch theo hướng bền vững, đảm bảo sự cân bằng giữa khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường. Thứ hai, hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư du lịch bền vững, hỗ trợ doanh nghiệp du lịch nhỏ và vừa. Thứ ba, đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá du lịch Ninh Bình trên các nền tảng quốc tế. Thứ tư, tăng cường bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch thông qua các biện pháp pháp lệ. Thứ năm, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, dịch vụ công cộng. Cuối cùng, đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ du lịch bền vững.

4.1. Hoàn chỉnh quy hoạch và chính sách hỗ trợ

Cần xây dựng quy hoạch du lịch bền vững chi tiết, rõ ràng cho từng vùng, từng điểm du lịch. Quy hoạch phải tuân thủ nguyên tắc bảo vệ môi trường, giữ gìn di sản văn hoá. Đồng thời, hoàn thiện các chính sách khuyến khích đầu tư, hỗ trợ vốn, ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp phát triển du lịch bền vững ở Ninh Bình, đặc biệt là các hình thức du lịch sinh thái, du lịch văn hoá.

4.2. Nâng cao chất lượng lao động và quảng bá du lịch

Cần tổ chức các khóa đào tạo, nâng cao kỹ năng phục vụ cho cán bộ, nhân viên du lịch. Đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá du lịch Ninh Bình thông qua internet, mạng xã hội, các hội chợ du lịch quốc tế. Xây dựng chiến lược marketing hiệu quả nhằm thu hút khách du lịch quốc tế, tăng số ngày lưu trú của du khách.

4.3. Bảo vệ môi trường và phát triển hạ tầng

Thực hiện các biện pháp cụ thể để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, hạn chế ô nhiễm tại các điểm du lịch. Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, cấp nước, điện, xử lý rác thải. Ứng dụng công nghệ xanh trong quản lý và phục vụ du lịch để đảm bảo du lịch bền vững ở Ninh Bình lâu dài.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1. Những vấn đề lý luận về du lịch. Khái niệm du lịch và các loại hình du lịch * Khái niệm du lịch Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người, từ xa xưa, con người đã luôn có tính tò mò muốn tìm hiểu thế giới xung quanh, bên ngoài nơi sinh sống của họ. Con người luôn muốn biết những nơi khác có cảnh quan ra sao, muốn biết về các dân tộc, nền văn hoá, các động vật, thực vật, địa hình ở những vùng khác hay quốc gia khác.

Lúc đầu con người quan niệm rất đơn giản về du lịch. Họ cho rằng du lịch là đi chơi, đi dã ngoại. Một số học giả lại cho rằng thuật ngữ “du lịch”trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “tornos” với nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được La tinh hóa thành “Tornos".

Một số học giả cho rằng thuật ngữ “du lịch” trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ gốc tiếng Pháp “le tour"- có nghĩa là một chuyển động vòng, là một cuộc hành trình đi đến một nơi nào đó và quay trở lại. Thuật ngữ đó sang tiếng Anh thành “tourism", sang tiếng Nga thành “mypuzn”. Như vậy, khái niệm “du lịch” ở các nước Pháp, Anh, Nga, Tây Ban Nha … có ý nghĩa đầu tiên là khởi hành, đi lại, chinh phục không gian. Người Đức sử dụng từ “der Fremden verkelirs” là tổ hợp ba từ có nghĩa là ngoại (lạ), giao thông (đi lại) và mối quan hệ.

Như vậy, họ nhìn nhận” du lịch”như là mối quan hệ, sự đi lại hay vận chuyển của những người đi du lịch. Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch được dịch thông qua tiếng Hán là từ ghép “du” là đi chơi, đi dạo và “lịch” là lịch lãm, hiểu biết, từng trải. Du lịch là biểu thị việc đi chơi của khách hàng nhằm tăng thêm hiểu biết, từng trải. Du lịch là biểu thị việc đi chơi của khách nhằm tăng thêm 14 hiểu biết, tích lũy kiến thức.

Bản thân khái niệm” du lịch”có ý nghĩa đầu tiên là sự khởi hành và lưu trú tạm thời của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình. Từ xa xưa loài người đã khởi hành với nhiều lý do khác nhau như vì sự tò mò, lòng ham hiểu biết về thế giới xung quanh, vì lòng yêu thiên nhiên, vì để học ngoại ngữ, để thỏa mãn sự hiếu kỳ, tính phiêu lưu mạo hiểm, thích cảm giác mạnh … Định nghĩa đầu tiên về du lịch xuất hiện năm 1811 tại Anh:” Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình và mục đích giải trí. Ở đây giải trí là động cơ chính” Năm 1930, ông Glusman, người Thụy Sỹ định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên”. Ông Kuns, một người Thụy Sỹ khác cho rằng: “Du lịch là hiện tượng những người ở chỗ khác, ngoài nơi ở thường xuyên, đi đến bằng các phương tiện giao thông và sử dụng sản phẩm của các xí nghiệp du lịch”.

Giáo sư, tiến sỹ Hunziker và giáo sư, tiến sỹ Krapf – hai người được coi là những người đặt nền móng cho lý thuyết về cung du lịch đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc cư trú đó không thành cư trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời”. Một số trường Đại học lại có định nghĩa du lịch như sau: Định nghĩa của Đại học Kinh tế Praha (CH Séc): “Du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người về việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức thường kỳ”. 15 Định nghĩa về du lịch của trường Đại học Tổng hợp Kinh tế thành phố Varna, Bulgarie:” Du lịch là một hiện tượng KT - XH được lặp đi, lặp lại đều đặn. Chính là sản xuất và trao đổi dịch vụ và hàng hóa của các đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập, đó là các tổ chức, xí nghiệp và cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên môn, nhằm đảm bảo sự đi lại, lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi và mục đích thỏa mãn các nhu cầu cá thể về vật chất và tinh thần của những người lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của họ để ngơi, chữa bệnh, giải trí (thuộc các nhu cầu về văn hóa, chính trị, kinh tế …) mà không có mục đích lao động kiếm lời”.

Định nghĩa của Michael Coltman (Mỹ):” Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: Du khách, nhà cung ứng, dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch”. Nhà cung ứng Du khách dịch vụ du lịch Chính quyền địa Dân cư sở tại phương nơi đón khách du lịch Như vậy du lịch không chỉ liên quan đến khách du lịch mà còn đề cập đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở và cá nhân phục vụ cho các nhu cầu tại nơi mà khách đi qua và ở lại. - Hoạt động du lịch 16 là hoạt động của khách du lịch, tổ chức cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch. Trong đó, chủ thể quan trọng của hoạt động du lịch là khách du lịch.

- Khách du lịch + Theo định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia (Leaque of Nations) (1937) thì những người được coi là khách du lịch là những người khởi hành để giải trí vì những nguyên nhân gia đình, vì sức khỏe … những người khởi hành để gặp gỡ trao đổi các mối quan hệ về khoa học, ngoại giao, tôn giáo, thể thao, công vụ, những người khởi hành vì mục đích kinh doanh. Những người cập bến từ các chuyến hành trình du ngoạn trên biển, thậm chí cả khi họ dừng lại trong khoảng gian ít hơn 24 giờ. + Ngày 4/3/1993, Hội đồng Thống kê Liên hợp quốc (United Nations Statistical Commisson) đã công nhận một số thuật ngữ về khách du lịch: Khách du lịch quốc tế (International tourist): gồm những người từ nước ngoài đến du lịch một quốc gia và những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài. Khách du lịch trong nước (Internal tourist): gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đi du lịch trong nước.

Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến. Khách du lịch quốc gia (National tourist): bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài + Theo Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam qui định: “Khách du lịch là người đi lại du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề ở nơi đến, khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế”. 17 Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.

- Sản phẩm du lịch Là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch, là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn nhân lực: Cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó. Sản phẩm du lịch bao gồm các yếu tố hữu hình cũng như vô hình - yếu tố hữu hình là hàng hóa, yếu tố vô hình là dịch vụ. - Dịch vụ du lịch Là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của khách du lịch. Để thỏa mãn các nhu cầu đó, ngành du lịch tổ chức cung cấp các dịch vụ du lịch cơ bản và thường được gọi tắt là cung dịch vụ, có thể phân chia thành các nhóm cơ bản: + Dịch vụ vận chuyển + Dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, đồ ăn, thức uống + Dịch vụ tham quan, giải trí + Hàng hoá tiêu dùng và đồ lưu niệm + Các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch Để có quan niệm đầy đủ về cả góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch, Khoa du lịch và khách sạn (Đại học KTQD - Hà Nội) đưa ra định nghĩa: “Du lịch là ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du 18 lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu, đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch.

Các hoạt động đó phải mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp". Trong Pháp lệnh Du lịch được Quốc hội khóa XI thông qua, tại Điều 10 qui định: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu thăm quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định". Du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia tạo ra một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội.

* Các loại hình du lịch Ngày nay có rất nhiều các loại hình du lịch dùng phổ biến trên thế giới: du lịch quốc tế, du lịch nội địa, du lịch chữa bệnh… và khi đi du lịch có nhiều nhu cầu nảy sinh khác nhau nên thường có sự kết hợp nhiều loại hình du lịch cùng một lúc, để tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của các khách du lịch đòi hỏi phải có các loại hình kinh doanh du lịch tương ứng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ