Tổng quan nghiên cứu
Biến đổi khí hậu toàn cầu đang làm gia tăng tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan, với hơn 80% các thảm họa tự nhiên tại khu vực Đông Nam Á xuất phát từ các dị thường khí tượng thủy văn. Tại Việt Nam, thiệt hại do thiên tai ước tính chiếm từ 1% đến 1,5% GDP hàng năm. Trong bối cảnh đó, bài toán dự báo hạn mùa với khoảng thời gian từ 1 đến 6 tháng đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp cơ sở khoa học để hoạch định chính sách kinh tế và quản lý rủi ro thiên tai. Tuy nhiên, các phương pháp thống kê truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế do phụ thuộc hoàn toàn vào chuỗi số liệu quá khứ và không mô tả được các quy luật vật lý phi tuyến của khí quyển.
Luận văn thạc sĩ khoa học của tác giả Trịnh Tuấn Long, dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Phan Văn Tân tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết bài toán thử nghiệm ứng dụng mô hình khí hậu khu vực để dự báo hạn mùa các chỉ số khí hậu cực đoan tại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể của đề tài là đánh giá khả năng mô phỏng các trường khí hậu bề mặt cơ bản và kiểm chứng kỹ năng dự báo các chỉ số cực đoan nhiệt độ và lượng mưa. Phạm vi nghiên cứu bao phủ toàn bộ lãnh thổ đất liền và vùng biển lân cận Việt Nam, với thời gian thử nghiệm cho 10 tháng năm 2012 thông qua các hạn dự báo từ 1 đến 6 tháng. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc nâng cao độ chính xác cảnh báo sớm trước 30 đến 180 ngày, tạo bước đệm chuyển đổi từ phương pháp thống kê sang mô hình số trị động lực học hiện đại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết hoàn lưu khí quyển quy mô lớn kết hợp tương tác khí quyển - đại dương và phương pháp hạ quy mô động lực học. Dao động Nam El Niño - Dao động Nam (ENSO) cùng dị thường nhiệt độ mặt nước biển (SST) tại khu vực Thái Bình Dương nhiệt đới là nhân tố vật lý chủ đạo chi phối các hoàn lưu khí quyển toàn cầu. Đồng thời, lý thuyết tương tác bề mặt đất - khí quyển khẳng định độ ẩm đất và lớp phủ thực vật có tác động kéo dài từ 30 ngày đến hàng năm, tạo khả năng duy trì bộ nhớ khí hậu phục vụ dự báo hạn mùa.
Các khái niệm chính được định nghĩa chặt chẽ theo hướng dẫn của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC năm 2007):
- Hiện tượng khí hậu cực đoan (ECE) là những sự kiện thời tiết hiếm gặp, có xác suất xuất phát điểm nhỏ hơn hoặc bằng 10% trong phân bố thống kê dài hạn.
- Phân vị xác suất bách phân vị được dùng làm ngưỡng phân định giá trị cực đại và cực tiểu của chuỗi quan trắc.
- Hệ thống chỉ số cực đoan nhiệt độ và lượng mưa bao gồm: nhiệt độ cực đại trung bình tháng (Tx), nhiệt độ cực tiểu trung bình tháng (Tm), nhiệt độ cực đại tuyệt đối tháng (TXx), nhiệt độ cực tiểu tuyệt đối tháng (TNn), số ngày rét đậm với nhiệt độ ngày từ 15 độ C trở xuống (C15), số ngày rét hại từ 13 độ C trở xuống (C13), số ngày nắng nóng từ 35 độ C trở lên (H35), số ngày nắng nóng gay gắt từ 37 độ C trở lên (H37) và số ngày mưa lớn từ 50 mm trở lên (R50).
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm sản phẩm dự báo toàn cầu từ Hệ thống Dự báo Khí hậu (CFS phiên bản 2) của Trung tâm Dự báo Môi trường Quốc gia Hoa Kỳ (NCEP). Bộ dữ liệu CFS có độ phân giải không gian 1 độ x 1 độ kinh vĩ với 37 mực khí áp thẳng đứng từ 1000 hPa đến 1 hPa, cung cấp 5 biến khí quyển 3 chiều (độ cao địa thế vị, độ ẩm tương đối, nhiệt độ không khí, thành phần gió kinh hướng, vĩ hướng) và 2 biến bề mặt (khí áp mực biển, nhiệt độ mặt nước biển). Dữ liệu mặt đệm sử dụng bộ số liệu lớp phủ toàn cầu GLCC phân giải cao với 18 loại thực vật và thổ nhưỡng được phân loại từ cảm biến bức xạ AVHRR giai đoạn 1992 - 1993.
Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu chọn toàn bộ tập số liệu dự báo liên tục trong 10 tháng năm 2012, chia thành các lát cắt thời gian 6 giờ một lần để cập nhật điều kiện biên và điều kiện ban đầu. Lý do lựa chọn mô hình động lực khu vực RegCM phiên bản 4.2 của Trung tâm Vật lý Lý thuyết Quốc tế (ICTP) là nhờ cấu trúc lưới Arakawa-B nằm ngang, hệ tọa độ thẳng đứng thủy tĩnh sigma theo địa hình và tích hợp sơ đồ trao đổi sinh quyển - khí quyển BATS cùng 7 tùy chọn tham số hóa đối lưu linh hoạt. Phương pháp phân tích thống kê định lượng bao gồm tính toán sai số hệ thống, độ lệch chuẩn và hệ số tương quan giữa sản phẩm mô hình với chuỗi quan trắc trạm thực tế tại Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, mô hình RegCM phiên bản 4.2 khi sử dụng trường biên CFS thể hiện kỹ năng dự báo tương đối tốt đối với trường nhiệt độ không khí trung bình tháng và các chỉ số cực đoan nhiệt độ trung bình. Ở các hạn dự báo từ 1 đến 3 tháng, sai số hệ thống nhiệt độ dao động trong khoảng 2 độ C tại đa số các trạm khí tượng trên toàn quốc. Nhiệt độ dự báo có tính ổn định cao và phản ánh sát thực tế xu thế biến thiên theo mùa tại cả miền Bắc và miền Nam.
Thứ hai, đối với các chỉ số nhiệt độ cực trị tuyệt đối và số ngày cực đoan, mô hình đã tái hiện thành công diễn biến của các đợt không khí lạnh mạnh. Điển hình là số ngày rét đậm C15 và rét hại C13 trong các tháng mùa đông đầu năm 2012 tại khu vực Bắc Bộ được mô phỏng với mức độ phù hợp cao, sai lệch chỉ khoảng 2 đến 3 ngày so với thực tế quan trắc. Tuy nhiên, các chỉ số nắng nóng gay gắt H37 vào mùa hè có xu hướng bị mô hình đánh giá thấp hơn từ 10% đến 20% tại khu vực Trung Bộ do ảnh hưởng cục bộ của hiệu ứng gió phơn.
Thứ ba, trường tổng lượng mưa tháng và số ngày mưa lớn R50 có sai số lớn hơn đáng kể so với trường nhiệt độ. Mô hình RegCM phiên bản 4.2 có xu hướng dự báo lượng mưa thấp hơn thực tế từ 15% đến 30% trên hầu hết các vùng khí hậu, đặc biệt trong các tháng cao điểm mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 9. Mặc dù vậy, mô hình vẫn nắm bắt được quy luật phân bố không gian tổng thể của các tâm mưa lớn tại khu vực ven biển miền Trung và Tây Nguyên với hạn dự báo 1 tháng.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân chính dẫn đến sai số trong dự báo lượng mưa bắt nguồn từ tính phi tuyến phức tạp của các quá trình đối lưu nhiệt đới và sự bất đồng quy mô giữa lưới tính toán mô hình khu vực với số liệu quan trắc điểm trạm. Địa hình đồi núi hiểm trở của Việt Nam tạo ra các hiệu ứng địa hình cục bộ mà các sơ đồ tham số hóa đối lưu hiện tại chưa mô tả toàn diện. Khi so sánh với các nghiên cứu của hệ thống đa mô hình DEMETER tại châu Âu gồm 7 mô hình toàn cầu hay dự án MRED tại Hoa Kỳ, kết quả thử nghiệm tại Việt Nam cho thấy sai số nhiệt độ tương đương với các chuẩn quốc tế, trong khi dự báo mưa nhiệt đới vẫn là thách thức chung của ngành khí tượng thế giới.
Trong thực tế nghiên cứu, toàn bộ kết quả định lượng được biểu diễn trực quan qua hệ thống biểu đồ phân bố tần suất nhiệt độ cực tiểu trung bình cho tháng 4 và tháng 8, đi kèm bản đồ không gian thể hiện phân bố đồng thời giá trị cực trị theo 6 hạn dự báo khác nhau. Các bảng thống kê kỹ năng dự báo chuẩn hóa đã làm rõ rằng việc kết hợp mô hình động lực học với các kỹ thuật hiệu chỉnh sai số sau mô hình hóa có thể giảm thiểu độ lệch chuẩn của trường nhiệt độ xuống dưới 1,5 độ C, mở ra tiềm năng lớn cho công tác nghiệp vụ.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm hoàn thiện quy trình công nghệ và nâng cao chất lượng dự báo hạn mùa các hiện tượng khí hậu cực đoan tại Việt Nam, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình công nghệ tổ hợp đa mô hình động lực khu vực. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia cần chủ trì kết hợp mô hình RegCM phiên bản 4.2 với các mô hình khu vực khác như WRF hay CCAM, sử dụng tập hợp từ 10 đến 20 thành phần ban đầu từ hệ thống CFS để tăng độ tin cậy dự báo các chỉ số ECE lên 15% đến 20% trong giai đoạn 12 đến 24 tháng tới.
Thứ hai, tối ưu hóa các sơ đồ tham số hóa vật lý đối lưu và bề mặt đệm. Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường cần tiến hành các thử nghiệm độ nhạy chuyên sâu cho từng miền khí hậu, đặc biệt là kết hợp sơ đồ Grell trên đất liền và Emanuel trên biển, nhằm giảm sai số dự báo lượng mưa mùa hè xuống dưới mức 15% trong vòng 12 tháng.
Thứ ba, hiện đại hóa hạ tầng tính toán hiệu năng cao và cơ sở dữ liệu số trị. Bộ Tài nguyên và Môi trường cần đầu tư hệ thống siêu máy tính xử lý song song để nâng cao độ phân giải không gian của mô hình từ 30 km xuống dưới 10 km, hoàn thành mục tiêu trong lộ trình 2 đến 3 năm.
Thứ tư, xây dựng sản phẩm bản tin dự báo cực đoan chuyên biệt phục vụ các ngành kinh tế xã hội. Các cơ quan khí tượng cần phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành định kỳ các bản tin dự báo sớm hạn hán, rét đậm, rét hại trước 90 đến 180 ngày, hỗ trợ nông dân điều chỉnh lịch thời vụ và giảm thiểu thiệt hại sản xuất.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
- Nhóm nghiên cứu khoa học và giảng viên chuyên ngành Khí tượng, Biến đổi khí hậu: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về phương pháp thiết lập mô hình khí hậu khu vực RegCM phiên bản 4.2, kỹ thuật xử lý dữ liệu đầu vào CFS và cách xác định các chỉ số khí hậu cực đoan theo chuẩn IPCC.
- Chuyên viên nghiệp vụ tại các cơ quan dự báo khí tượng thủy văn: Nắm bắt quy trình ứng dụng mô hình số trị động lực để bổ sung cho phương pháp thống kê truyền thống, nâng cao năng lực phát hành các bản tin dự báo mùa.
- Các nhà quản lý tài nguyên, quy hoạch nông nghiệp và phòng chống thiên tai: Sử dụng các đánh giá về xu thế rét đậm, rét hại và mưa lớn để xây dựng kịch bản ứng phó rủi ro thiên tai và điều tiết hồ chứa thủy điện hiệu quả.
- Doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp, năng lượng tái tạo và xây dựng: Khai thác thông tin dự báo biến thiên nhiệt độ và lượng mưa hạn mùa để quản trị rủi ro vận hành và tối ưu hóa phương án kinh doanh.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao mô hình động lực học được đánh giá vượt trội hơn phương pháp thống kê trong dự báo hạn mùa?
Phương pháp mô hình động lực học dựa trên các phương trình vật lý cơ bản của khí quyển và đại dương, cho phép mô phỏng chính xác sự biến đổi phi tuyến và các hiện tượng đột biến. Ngược lại, phương pháp thống kê chỉ dựa vào dữ liệu quá khứ nên khó dự báo được các pha chuyển tiếp thời tiết bất thường trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Hệ thống CFS của Hoa Kỳ đóng vai trò như thế nào trong nghiên cứu này?
CFS là hệ thống dự báo toàn cầu kết hợp đầy đủ tương tác khí quyển, đại dương và đất liền. Dữ liệu dự báo của CFS cung cấp điều kiện ban đầu và điều kiện biên cập nhật 6 giờ một lần cho mô hình RegCM phiên bản 4.2, đảm bảo truyền tải các tín hiệu hoàn lưu quy mô lớn vào khu vực Việt Nam.
Các chỉ số khí hậu cực đoan nào được tập trung đánh giá trong luận văn?
Luận văn đánh giá 9 chỉ số chính gồm: nhiệt độ cực đại trung bình (Tx), nhiệt độ cực tiểu trung bình (Tm), cực đại tuyệt đối (TXx), cực tiểu tuyệt đối (TNn), số ngày rét đậm (C15), số ngày rét hại (C13), số ngày nắng nóng (H35), số ngày nắng nóng gay gắt (H37) và số ngày mưa lớn trên 50 mm (R50).
Hạn dự báo nào cho kết quả mô phỏng nhiệt độ chính xác nhất?
Theo kết quả kiểm chứng của luận văn, kỹ năng dự báo nhiệt độ đạt độ chính xác cao nhất ở các hạn dự báo từ 1 đến 3 tháng. Ở các hạn dài hơn từ 4 đến 6 tháng, sai số có xu hướng tăng dần do sự tích lũy sai số biên nhưng vẫn giữ được xu thế khí hậu chung.
Làm thế nào để khắc phục hiện tượng mô hình dự báo lượng mưa thấp hơn thực tế?
Để khắc phục sai số lượng mưa, giải pháp hiệu quả là áp dụng kỹ thuật hiệu chỉnh sai số thống kê sau mô hình hóa, đồng thời thử nghiệm kết hợp linh hoạt các sơ đồ tham số hóa đối lưu như Grell và Emanuel phù hợp với đặc thù địa hình từng vùng tại Việt Nam.
Kết luận
- Luận văn đã thiết lập thành công quy trình công nghệ tích hợp trường dự báo toàn cầu CFS làm điều kiện biên cho mô hình khí hậu khu vực RegCM phiên bản 4.2 tại Việt Nam.
- Mô hình thể hiện độ tin cậy vượt trội trong việc dự báo trường nhiệt độ trung bình và các đợt rét đậm, rét hại với sai số nhiệt độ ổn định trong ngưỡng khoảng 2 độ C.
- Kỹ năng dự báo lượng mưa và các đợt mưa lớn trên 50 mm đã phản ánh được cấu trúc phân bố không gian nhưng vẫn cần cải tiến để khắc phục xu hướng ước tính thấp hơn thực tế.
- Đóng góp khoa học cốt lõi của công trình là mở ra hướng đi mới trong việc ứng dụng mô hình số trị động lực học vào bài toán dự báo hạn mùa các hiện tượng cực đoan, thay thế dần phương pháp thống kê thô sơ.
- Về lộ trình tiếp theo trong 1 đến 2 năm tới, các cơ quan nghiên cứu cần mở rộng thử nghiệm tổ hợp đa mô hình với chuỗi số liệu tái phân tích dài hạn nhằm sớm đưa công nghệ này vào quy trình dự báo nghiệp vụ chính thức. Các nhà khoa học và chuyên gia dự báo khí tượng thủy văn cần tiếp tục phối hợp sâu rộng để hoàn thiện các công cụ mô hình hóa số trị, phục vụ hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và giảm nhẹ rủi ro thiên tai tại Việt Nam.