Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Số liệu và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kết quả và phân tích. Kết luận và khuyến nghị.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm + Các đặc t ƣn nhiệt độ Nhiệt độ không khí tại một nơi nào đó tại một thời điểm nhất định là giá trị hiển thị trên nhiệt kế đo. Nhiệt độ không khí tại một khu vực nào đó thƣờng đƣợc đo tại các trạm quan trắc. Nhiệt độ không khí có thể đƣợc đo tại các thời điểm khác nhau trong ngày nhƣ: 01 giờ, 04 giờ, 07 giờ, 10 giờ, 13 giờ, 16 giờ,19 giờ, 21 giờ.
Tập hợp số liệu nhiệt độ tại một trạm quan trắc trong một thời gian có thể đƣợc đặc trƣng bằng các đại lƣợng thống kê. Các đặc trƣng nhiệt độ bao gồm: Nhiệt độ trung bình ngày(ký hiệu là Ttb) là giá trị trung bình cộng của các giá trị nhiệt độ đo tại các thời điểm nhƣ: 01 giờ, 07 giờ, 13 giờ, 19 giờ. Nhiệt độ trung bình tháng là giá trị trung bình cộng của các giá trị nhiệt độ trung bình ngày của tháng đó. Nhiệt độ trung bình năm là giá trị trung bình cộng của các giá trị nhiệt độ trung bình tháng của 12 tháng trong năm đó hoặc giá trị trung bình cộng của các giá trị nhiệt độ trung bình ngày của tất cả các ngày trong năm đó (từ ngày 01/01 đến ngày 31/12).
Nhiệt độ trung bình nhiều năm là giá trị trung bình cộng của các giá trị nhiệt độ trung bình năm của nhiều năm. Nhiệt độ tối cao trung bình ngày(ký hiệu là Tx) là giá trị nhiệt độ cao nhất trong ngày đƣợc đo từ 19 giờ ngày hôm trƣớc đến 19 giờ ngày hôm sau. Nhiệt độ tối cao trung bình tháng là giá trị trung bình cộng của các giá trị nhiệt độ tối cao trung bình ngày của tháng đó. Nhiệt độ tối cao trung bình năm là giá trị trung bình cộng của các giá trị nhiệt độ tối cao trung bình tháng của 12 tháng trong năm đó hoặc giá trị trung bình cộng của các giá trị nhiệt độ tối cao trung bình ngày của tất cả các ngày trong năm đó (từ ngày 01/01 đến ngày 31/12).
Nhiệt độ tối cao trung bình nhiều năm là giá trị trung bình cộng của các giá trị nhiệt độ tối cao trung bình năm của nhiều năm. Nhiệt độ tối thấp trung bình ngày(ký hiệu là Tn) là giá trị nhiệt độ thấp nhất trong ngày đƣợc đo từ 19 giờ ngày hôm trƣớc đến 19 giờ ngày hôm sau. 3 Nhiệt độ tối thấp trung bình tháng là giá trị trung bình cộng của các giá trị nhiệt độ tối thấp trung bình ngày của tháng đó. Nhiệt độ tối thấp trung bình năm là giá trị trung bình cộng của các giá trị nhiệt độ tối thấp trung bình tháng của 12 tháng trong năm đó hoặc giá trị trung bình cộng của các giá trị nhiệt độ tối thấp trung bình ngày của tất cả các ngày trong năm đó (từ ngày 01/01 đến ngày 31/12).
Nhiệt độ tối thấp trung bình nhiều năm là giá trị trung bình cộng của các giá trị nhiệt độ tối thấp trung bình năm của nhiều năm. Biên độ nhiệt độ ngày là hiệu của giá trị nhiệt độ tối cao trong ngày và nhiệt độ tối thấp trong ngày. + Các đặc t ƣn mƣa Lƣợng mƣa tại một khu vực thƣờng đƣợc đo tại các trạm quan trắc bằng vũ lƣợng kế hoặc bằng máy đo mƣa tự động. Lƣợng mƣa có thể đƣợc đo trong các khoảng thời gian khác nhau nhƣ: 1 giờ, 3 giờ, 6 giờ, 9 giờ, 12 giờ, 1 ngày.
Tập hợp số liệu lƣợng mƣa tại một trạm quan trắc trong một khoảng thời gian có thể đƣợc đặc trƣng bằng các đại lƣợng thống kê. Do vậy, khi nói đến các đặc trƣng mƣa của trạm nào đó là nói đến các đặc trƣng thống kê lƣợng mƣa của trạm đo mƣa đó[3]. Các đặc trƣng mƣa đó bao gồm: Lƣợng mƣa ngày (kí hiệu là: Rngay) là lƣợng mƣa tổng cộng đo đƣợc của một trạm đo mƣa với các kỳ quan trắc trong thời gian từ 19 giờ hôm trƣớc đến 19 giờ hôm nay. Lƣợng mƣa tháng (kí hiệu là: Rthang) là tổng cộng các giá trị lƣợng mƣa ngày của một trạm đo mƣa đó trong một tháng.
Lƣợng mƣa năm (kí hiệu là: Rnam) là tổng cộng các giá trị lƣợng mƣa ngày của một trạm trong một năm (từ ngày 01/01 đến ngày 31/12) hay tổng cộng 12 giá trị lƣợng mƣa tháng trong một năm. Lƣợng mƣa ngày cực đại là chỉ số lƣợng mƣa của một ngày lớn nhất trong một tháng hoặc một năm nào đó (IPCC, 2007).Những nghiên cứu trên thế giới Về biến đổi nhiệt độ: Theo Kịch bản Biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng cho Việt Nam (2012, 2016): Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 0,89oC (dao động từ 0,69 đến 4 1,08oC) trong thời kỳ 1901-2012. Nhiệt độ trung bình toàn cầu có chiều hƣớng tăng nhanh đáng kể từ giữa thế kỷ 20 với mức tăng khoảng 0,12oC/thập kỷ trong thời kỳ 1951-2012[8, 9]. Số ngày và số đêm lạnh có xu thế giảm, số ngày và số đêm nóng cùng với hiện tƣợng nắng nóng có xu thế tăng rõ rệt trên quy mô toàn cầu từ khoảng năm 1950 (IPCC, 2013).
Anders Moberg và cs, trong nghiên cứu Các chỉ số về nhiệt độ và lƣợng mƣa ngày cực đoan ở châu Âu phân tích cho giai đoạn 1901 – 2000 đã cho thấy: đối với 75 trạm đại diện cho châu Âu phía tây kinh độ 20oE, xu thế trung bình có sự nóng lên cho tất cả các chỉ số nhiệt độ. Trung bình, mùa đông đã nóng lên 1,0oC/100 năm so với mùa hè 0,8 oC/100 năm, cả về nhiệt độ tối đa hàng ngày (Tx) và tối thiểu (Tn). Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn giữa các khu vực về xu thế nhiệt độ. Đối với mùa hè, xu thế nóng lên mạnh hơn cho cả Tx và Tn, trong khi xu thế ấm lên ở mùa đông chỉ xảy ở một số vùng trung tâm châu Âu[23].
Sheikh và cs, trong nghiên cứu xu thế các chỉ số cực trị nhiệt độ và lƣợng mƣa hàng ngày ở khu vực nam Á giai đoạn 1961-2000 cho thấy: cực trị nhiệt độ cao đã trở nên phổ biến hơn và các cực trị lạnh ít phổ biến hơn. Sự ấm lên ở phía Đông Himalaya lớn hơn so với ở Himalaya. Sa mạc Thar cũng cho thấy sự ấm lên đƣợc tăng cƣờng, nhƣng mức tăng ít hơn ở Đông Himalaya[13]. Manton và cs, trong nghiên cứu xu thế các chỉ số cực trị nhiệt độ và lƣợng mƣa hàng ngày ở khu vực Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dƣơng giai đoạn 1961-1998 cho thấy: sự gia tăng đáng kể đã đƣợc phát hiện với chỉ số ngày nóng (hot days) và đêm ấm (warm nights) hàng năm; Số ngày nóng đã tăng ở đa số các trạm, nhƣng đã giảm đáng kể ở miền bắc Australia.
Có sự giảm đáng kể số lƣợng ngày mát (cool days) và đêm lạnh (cold nights) hàng năm, ngoại trừ ở Philippines. Những xu thế cực đoan nhiệt độ cho thấy sự nhất quán đáng kể trong khu vực[22]. Banzragch Nandintsetseg và cs, trong nghiên cứu xu thế các chỉ số cực trị nhiệt độ và lƣợng mƣa ngày ở khu vực gần Hồ Hovsgol - Mông Cổ giai đoạn 1963- 2002 kh ng định: điều kiện khí hậu ở phía bắc Mông Cổ đang thay đổi với xu thế ấm lên đƣợc xác định trong thời gian nghiên cứu. Sự gia tăng đáng kể đƣợc phát hiện trong số ngày nóng (hot days) và đêm ấm (warm nights) hàng năm ở khu vực 5 này.
Đồng thời, có xu thế giảm trong số ngày mát (cool days) và đêm lạnh (cold nights) hàng năm[24]. Siyan Dong và cs, trong nghiên cứu “Quan sát những thay đổi về nhiệt độ cực trị ở châu Á và sự biểu hiện của chúng” giai đoạn 1958-2012 cho thấy: Một xu thế ấm lên rõ ràng đã đƣợc quan sát thấy trong tất cả các chỉ số, phù hợp với sự nóng lên toàn cầu. Trong hầu hết các chỉ số, sự nóng lên ở vĩ độ cao lớn hơn đƣợc quan sát thấy ở vĩ độ thấp. Chúng bao gồm sự gia tăng ở các đặc trƣng cực đoan nóng nhƣ số ngày hè và đêm nhiệt đới, ngƣợc lại giảm ở đặc trƣng cực đoan lạnh nhƣ số ngày băng giá hoặc có tuyết,nhƣng xu thế nói chung là mạnh hơn ở vĩ độ cao[15].
Theo báo cáo đánh giá lần thứ 5 của IPCC, báo cáo nhóm làm việc thứ II(WGIIAR5), chƣơng 24 cho khu vực Châu Á của nhóm tác giả Yasuaki Hijioka (Japan) và cs cho biết: nhiệt độ trung bình hàng năm đã tăng trong thế kỷ qua ở hầu hết khu vực châu Á, nhƣng có những khu vực giao thoa và ở vĩ độ cao, trong đó phạm vi giám sát không đủ để đánh giá xu thế.Các phân tích mới tiếp tục ủng hộ Báo cáo đánh giá lần thứ tƣ (AR4) và Báo cáo đặc biệt của IPCC về quản lý rủi ro các sự kiện cực đoan và thảm họa để cải thiện các kết luận thích ứng với biến đổi khí hậu (SREX) rằng số ngày và đêm lạnh đã giảm; số ngày và đêm ấm đã tăng lên trên hầu hết châu Á kể từ khoảng năm 1950. Tần số Nắng nóng đã tăng lên từ giữa thế kỷ 20 ở các khu vực rộng lớn của châu Á[11]. Trong giai đoạn 1901 – 2009, xu thế ấm lên đặc biệt mạnh mẽ vào mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3, với mức tăng 2,4°C ở nửa khu vực vĩ độ trung bình của châu Á(WGI AR5 Mục 14. Xu thế tăng nhiệt độ trung bình hàng năm ở quy mô quốc gia ở Đông và Nam Á đã đƣợc quan sát thấy trong thế kỷ 20.
Ở Tây Á, xu thế nhiệt độ tăng là đáng chú ý và mạnh mẽ trong những thập kỷ gần đây (Phần 14.10 của WGI AR5). Trên khắp Đông Nam Á, nhiệt độ đã tăng lên ở mức 0,14°C đến 0,20°C mỗi thập kỷ kể từ những năm 1960, cùng với số ngày nóng và đêm ấm tăng lên, thời tiết lạnh giảm đi[11]. Kyu Kyu Sein và cs, trong nghiên cứu quan sát xu thế và sự thay đổi về nhiệt độ và lƣợng mƣa cực đoan ở Myanmar giai đoạn 1981 đến 2015, cho thấy: Xu thế nhiệt độ cực đại và tối thiểu ấm lên đáng kể trên khắp Myanmar. Từ năm 2009 đến 2015, sự bất thƣờng về nhiệt độ tối đa đã liên tục tăng 0,5 °C trong tất cả các năm trừ năm 2011.
6 Sự gia tăng lớn hơn về cả nhiệt độ tối đa và tối thiểu quan sát đƣợc sau năm 2000 cho thấy về tổng thể ngày và đêm đang trở nên nóng hơn đối với toàn bộ Mmarmar trong giai đoạn gần đây.