Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tống quan tài liệu tham khảo 1. Vai trò của hoạt động khuyến nông trên thé giới Đánh giá hiệu quả của công tác khuyến nông có tác động lớn đến việc phát triển nông nghiệp, cải thiện nhận thức của nông dân và chuyền giao tốt khoa học công nghệ. Nhiều nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp và mô hình khác nhau dé đánh giá sự hiệu quả của công tác khuyến nông trên địa bàn nghiên cứu.
Mô hình giới hạn sản xuất phi truyền thống (the nonneutral production frontier model) được sử dụng cùng với việc phân tích thực nghiệm tác động của khuyến nông đến hiệu quả sản xuất của trang trại ở Crete, Hy Lạp, nghiên cứu đã cho thấy các kết quả thực nghiệm ủng hộ công thức đề xuất thay vì công thức dựa trên sản xuất hoặc dựa trên hiệu quả như khuyến nông đã có tác động đáng ké về mặt thống kê trong việc thu hẹp khoảng cách cả về công nghệ và quản lý. Các dịch vụ khuyến nông công cộng và tư nhân được phát hiện là cạnh tranh trong chức năng sản xuất và bổ sung cho chức năng hiệu quả kém hiệu qua kỹ thuật. Ngoài ra, các trang trại sử dụng cả dịch vụ khuyến nông nhà nước và tư nhân đạt được mức độ hiệu quả kỹ thuật cao hơn so với các trang trại sử dụng dịch vụ khuyến nông nhà nước hoặc tư nhân, và các trang trại không sử dụng dịch vụ khuyến nông được coi là kém hiệu qua nhất (Dinar và cộng sự, 2006). Mặc dù có một trong những tỷ lệ tổ chức khuyến nông cho nông dân cao nhất và một hệ thống khuyến nông đa dạng nhưng Cộng hòa Dân chủ Congo vẫn không cung cấp kiến thức và công nghệ đến khu vực nông thôn do thiếu sự phối hợp, không có chính sách, nhiệm vụ thống nhất và rõ ràng, thiếu kinh phí, trình độ tổ chức với hình thức cũ và năng lực thấp, thiếu tính cơ động và tương tác của tổ chức với các ngành liên quan.
Bằng phương pháp phỏng vấn và khảo sát 107 tô chức khuyến nông và 162 cán bộ khuyến nông tại 156 thôn được chọn ngẫu nhiên, được phân tích bằng phương pháp định tính và hồi quy logistic, nghiên cứu cho thay rang số lượng tổ chức và cán bộ khuyến nông nhiều chưa han mang đến sự hiệu quả trong hoạt động khuyến nông và sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, nếu hoạt động khuyến nông được khắc phục những khuyết điểm và hạn chế còn tồn tại thì hiệu suất sẽ được nâng lên (Ragasa, 2015). Một nghiên cứu về ảnh hưởng của các dich vụ khuyến nông đến năng suất ô- liu tai Jordan đã thực hiện bằng cách thu thập thông tin và dữ liệu từ 60 nhà sản xuất ô-liu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản. Hai bảng câu hỏi được thiết kế riêng biệt cho những nông dân đã nhận các dịch vụ khuyến nông và những nông dân không nhận các dịch vụ khuyến nông.
Một bảng câu hỏi khác được thiết kế cho các quản trị viên của các tô chức khuyến nông liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ khuyến nông cho nông dân. Hiệu quả của các hoạt động khuyến nông được xác định bằng cách so sánh chỉ tiêu lợi nhuận ròng bình quân thu được từ diện tích sản xuất của trang trại 6-liu giữa hai nhóm hộ. Kết quả của nghiên cứu cho thay không có sự khác biệt giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng (t = 0,171; gia tri p < 0,05), gia tri kiểm định tương quan giữa 2 biến (sig. 2-tailed) với thử nghiệm t = 0,865, lớn hơn 0,05, những kết quả này dường như chỉ ra rằng lợi nhuận ròng của những nông dân nhận được các dịch vụ khuyến nông gần như tương đương với những người không nhận bat kỳ dịch vụ khuyến nông nào.
Các dịch vụ khuyến nông được cung cấp không tạo ra sự khác biệt về lợi nhuận ròng của nông dân trong sản xuất. Đề khắc phục hầu hết những trở ngại mà các chương trình khuyến nông gặp phải ở Jordan, nghiên cứu đã đề xuất chính phủ nên tô chức các khóa dao tạo nông nghiệp rộng rãi để đào tạo cán bộ khuyến nông đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nông dân, thiết lập các điểm trình diễn thực địa, các điểm thử nghiệm trên cánh đồng của nông dân (Ali AL-Sharafat, 2012). Hiệu quả hoạt động khuyến nông không chỉ bi ảnh hưởng bởi các yếu tô từ phía các nông hộ sản xuất như trình độ học vấn, kỹ thuật canh tác,. mà còn bị ảnh hưởng bởi năng lực chuyên môn của các cán bộ khuyên nông.
Đội ngũ cán bộ khuyên nông, các chuyên gia về nông nghiệp, kỹ thuật viên, cộng tác viên khuyến nông cũng là một thành phần ảnh hưởng lớn đến hiệu quả khuyến nông. Tương tác giữa cán bộ khuyến nông đối với nông dân cùng với trình độ năng lực và kiến thức của cán bộ khuyến nông tác động rất nhiều đến việc chuyên giao khoa học kỹ thuật, công nghệ, phương thức sản xuất mới đến người nông dân. Sự cần thiết của hệ thống chuyên gia khuyến nông trong bối cảnh công nghệ nông nghiệp liên tục biến đổi theo năm tháng. Ngày nay, người nông dân bị cuốn vào nhiều loại cây trồng mới, thuốc trừ sâu, máy móc nông trại và kỹ thuật canh tác.
Đối phó với sự phức tạp ngày càng tăng này là quá sức. Đề đưa ra các quyết định thận trọng và chính xác, nông dân cần tiếp cận nhanh chóng thông tin các van đề nông nghiệp có thé kịp thời, đáng tin cậy và nhất quán, do đó, họ phải nhờ đến các chuyên gia khuyến nông. Nghiên cứu kết luận rằng đã có sự cải thiện về kỹ năng ra quyết định và hiệu suất của cán bộ khuyến nông sau khi sử dụng hệ thống chuyên gia. Có thé sử dụng hệ thống chuyên gia như một công cụ hỗ trợ quyết định dé chuyên giao công nghệ nông nghiệp cho nông dân (Sivakami và Karthikeyan, 2009).
Nhằm phân tích trình độ năng lực chuyên môn của cán bộ khuyến nông khu vực công và tư nhân ở tỉnh Baluchistan của Pakistan, Megal và cộng sự (2015) đã sử dụng mẫu gồm 375 nông dân được chọn bằng quy trình lay mẫu có hệ thống. Kết qua của nghiên cứu cho thấy cả cán bộ khuyến nông nhà nước và tư nhân đều không đủ năng lực đề thực hiện công việc khuyến nông. Tuy nhiên, các nông dân cho rằng, các cán bộ khuyến nông làm việc ở khu vực tư nhân có năng lực hơn so với khu vực công. Năng lực làm việc của cán bộ khuyến nông được đánh giá thông qua một bộ gồm 13 chỉ số năng lực, kết quả kiểm định cho thấy trong số 13 chỉ số năng lực, tám chỉ số có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 0,05; năm chỉ số năng lực không đáng kể.
Nghiên cứu đề xuất cần áp dụng các quy trình đào tạo thường xuyên nhằm nâng cao năng lực của cán bộ khuyến nông khu vực công và tư nhân (Mengal và cộng sự, 2015). Hiệu quả công tác khuyến nông bao gồm việc việc nông dân tiếp cận đầy đủ và kịp thời với các dịch vụ có liên quan, với các động lực thích hợp dé áp dụng công nghệ mới nêu phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và nông nghiệp của địa phương. Điều quan trọng đối với việc áp dụng là khả năng tận dụng của công nghệ cải tiến, khả năng tiếp cận các đầu vào, nguồn lực hiện đại và khả năng sinh lời ở mức rủi ro có thé chấp nhận được (Byerlee, 1998 và Van den Ban, 1999). Vai trò của hoạt động khuyến nông tại Việt Nam Nghiên cứu về hiệu quả của hoạt động khuyến nông (KN) cũng được nhiều tác giả trong nước thực hiện, điển hình như: Trịnh Hải Vân và Vi Thị Hồng Phúc (2019) đã sử dụng các phương pháp chủ yếu là phỏng vấn, phân tích kinh tế hộ gia đình và phân tích có chon lọc các tai liệu thứ cấp.
Qua đó, phân tích về thực trạng các hoạt động KN, tác động của hoạt động KN đến phát triển kinh tế hộ gia đình (HGD) tại bản Bó Hốc, xã Quang Huy, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Nghiên cứu đã đánh giá tác động của hoạt động khuyến nông đến phát triển kinh tế HGD cả về mặt kinh tế và mặt xã hội dựa trên sự tham gia của các HGD vào các hoạt động khuyến nông như (i) tập huấn và dao tạo; (ii) xây dung mô hình va (iii) thông tin tuyên truyền. Kết qua cho thấy hoạt động tập huấn kỹ thuật được người dân quan tâm nhiều nhất. Hoạt động thông tin tuyên truyền nhìn chung hiệu quả chưa cao do số lượng hộ gia đình được tiếp cận với tờ rơi và ấn phẩm khuyến nông còn chưa đầy đủ.
Cả 3 nhóm hộ (nhóm hộ I, nhóm hộ II, nhóm hộ III) của bản Bó Hốc đều có nguồn thu nhập chính từ trồng trọt và chăn nuôi. Tác động rõ rệt nhất của hoạt động KN đến phát triển kinh tế HGD là về mặt đóng góp của mô hình KN đến tổng thu nhập của hộ. Bên cạnh đó, khảo sát các yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến hiệu quả công tác của CBKN, nghiên cứu của Lê Ngọc Thạch (2009) đã sử dung 9 nhân tô dé dự đoán hiệu quả công việc của CBKN: (1) động cơ làm công tác khuyến nông: (2) kỹ năng về thiết kế giảng dạy và truyền dat; (3) kỹ năng về sự hỗ trợ hoạt động: (4) kỹ năng giảng day KN; (5) kỹ năng hoạch định chương trình; (6) kỹ năng thực hiện chương trình; (7) kỹ năng đánh giá chương trình; (8) kỹ năng về công tác xã hội; (9) khả năng về quan hệ đối ngoại. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 yếu tố cá nhân đã góp phần ảnh hưởng có ý nghĩa đến hiệu quả công việc của CBKN, đó là: khả năng về công tác xã hội, kỹ năng thực hiện chương trình, động cơ làm công tác khuyến nông, và kỹ năng hoạch định chương trình.
Ngoài ra, các cơ quan khuyến nông nên cung cấp một môi trường khuyến khích cho CBKN của họ cải thiện các kỹ năng vẫn còn lĩnh hội thấp đặc biệt như Khả năng về quan hệ đối ngoại và Kỹ năng về thiết kế giảng dạy và truyền đạt.