Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KHỞI NGHIỆP, KHỞI SỰ KINH DOANH 1.1 Các khái niệm cơ bản về khởi nghiệp và kinh doanh 1.1 Khái niệm về kinh doanh 1.1 Khái niệm Trong cuộc sống, con người cần tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ cụ thể nhằm thỏa mãn các nhu cầu của mình. Vì thế, xã hội xuất hiện nhu cầu tạo ra sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho xã hội loài người. Khi xuất hiện nền kinh tế trao đổi từ thuở xa xưa, mọi sản phẩm, dịch vụ đều được người kinh doanh bán cho người khác với mục đích thu lợi nhuận. Kinh doanh là hoạt động kinh tế của cá nhân hoặc tổ chức nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Kinh doanh bao gồm nhiều lĩnh vực như tài chính, thông tin, tin tức, giải trí, sản xuất công nghiệp, bán lẻ, phân phối, vận tải,. Hầu hết mọi người đều đồng ý rằng kinh doanh là công việc sống còn để giúp nền kinh tế tăng trưởng và tạo ra cơ hội việc làm trong mọi xã hội. Và một sự thật là rất nhiều người trong chúng ta có mong muốn trở thành doanh nhân, những doanh nhân thành đạt. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể trở thành doanh nhân.
Vậy ai có thể trở thành một doanh nhân? Một doanh nhân thành đạt có thể xuất hiện ở bất kỳ độ tuổi, mức độ thu nhập, giới tính và chủng tộc nào, họ khác nhau về học vấn và kinh nghiệm. Nhưng một kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết các doanh nhân thành đạt đều có những phẩm chất cá nhân nhất định, đó là tính sáng tạo, tính chăm chỉ, lòng quyết tâm, tính linh hoạt, khả năng lãnh đạo, lòng say mê, tính tự tin và thông minh. Tính sáng tạo là tia lửa tạo ra sự phát triển đối với các sản phẩm và dịch vụ mới hoặc đưa tới các cách thức kinh doanh. Đây chính là động lực của sự cải tiến và đổi mới.
Nó khiến người ta không ngừng học tập, suy nghĩ sáng tạo ngoài những gì đã được tạo ra. Tính chăm chỉ là điều khiến nhà doanh nghiệp làm việc cần mẫn, 12 giờ/ngày hoặc nhiều hơn, thậm chí làm việc cả 7 ngày trong tuần, đặc biệt là từ khi khởi 1 đầu đến khi hết sức lực của một ngày làm việc. Việc lập kế hoạch và các ý tưởng phải được tập trung cao độ nhằm đạt được kết quả. Sự chăm chỉ khiến người ta đạt được điều này.
Lòng quyết tâm là mong muốn khát khao mạnh mẽ để đạt được thành công. Nó bao gồm sự kiên trì và khả năng đứng vững và vượt qua những lúc sóng gió. Nó khiến các nhà doanh nghiệp có thể gọi cuộc điện thoại thứ mười sau khi đã gọi chín cuộc điện thoại trước đó mà không có kết quả gì. Đối với một nhà doanh nghiệp đích thực, tiền không phải là động lực.
Sự thành công mới là động lực, còn tiền chỉ là phần thưởng mà thôi. Tính linh hoạt là khả năng chuyển biến nhanh thích ứng với sự thay đổi nhu cầu của thị trường. Nó là khả năng giữ cho những mơ ước không bị trở nên viển vông trong khi luôn ghi nhớ những thực tiễn trên thị trường. Khả năng lãnh đạo là khả năng tạo ra những quy tắc và thiết lập những mục tiêu.
Nó cũng chính là khả năng đảm bảo rằng những quy tắc được tuân thủ và các mục tiêu sẽ đạt được. Lòng say mê là điều khiến cho nhà doanh nghiệp khởi đầu và giữ họ với niềm say mê đó. Lòng say mê tạo cho các doanh nhân khả năng thuyết phục người khác tin vào những gì họ diễn đạt. Nó không thể thay thế cho việc lập kế hoạch, nhưng nó giúp họ tập trung và khiến người khác chú ý đến kế hoạch mà doanh nhân đó đề ra.
Tính tự tin có được từ kế hoạch chu đáo, điều đó giúp loại trừ được những rủi ro không lường trước được. Tính tự tin có được từ sự tinh thông chuyên môn. Tự tin giúp nhà doanh nghiệp có được khả năng lắng nghe mà không bị dao động một cách dễ dàng hoặc cảm thấy sợ hãi. Thông minh thường được hiểu gồm cả tư duy logic kết hợp với hiểu biết hoặc kinh nghiệm trong một lĩnh vực hoặc nỗ lực kinh doanh có liên quan.
Tư duy logic đem lại cho người ta một bản năng tốt, còn hiểu biết và kinh nghiệm đem lại sự tinh thông nghề nghiệp. Nhiều người có trí thông minh nhưng chính họ cũng không nhận ra. Một người thành công trong quản lý ngân sách gia đình thường có kỹ năng tài chính và kỹ năng tổ chức. Kinh nghiệm trong cuộc sống, trong lao động và trong giáo dục là các yếu tố cấu thành nên “sự thông minh”.
2 Bất kỳ một doanh nhân nào cũng đều có các phẩm chất nêu trên theo mỗi mức độ khác nhau. Nhưng điều gì xảy ra nếu một người thiếu một hoặc nhiều các phẩm chất này? Nhiều kỹ năng có thể có được do học hành. Hoặc giả, doanh nhân có thể thuê những người có các phẩm chất mà chính họ đang thiếu. Chiến lược có ý nghĩa quan trọng nhất chính là việc nhận thức được những điểm mạnh và phát huy chúng.
Có những lĩnh vực kinh doanh nào? Kinh doanh tài chính: Bao gồm các chủ thể nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, hộ gia đình, cá nhân,. đóng góp quỹ tiền tệ vào ngân sách nhà nước, bảo hiểm, tín dụng thông qua hình thức phân phối tổng sản phẩm xã hội sử dụng theo mục đích nhất định từ việc đầu tư và quản lý nguồn vốn nhằm thu lợi nhuận. Thông tin, tin tức, giải trí: Phương thức truyền thông đưa những thông tin, hình ảnh tới quần chúng bao gồm các quyền sở hữu trí tuệ, nhà sản xuất, xưởng phim,. Kinh doanh bất động sản: Đây là sàn giao dịch của các nhà kinh doanh với các dự án lớn nhỏ mục đích thu lợi từ việc cho thuê, bán nhà đất và các hạng mục hạ tầng.
Sản xuất công nghiệp: Công nghiệp là một ngành kinh tế hoạt động với quy mô lớn sản xuất hàng hóa vật chất chế biến, chế tạo công nghệ thúc đẩy mạnh mẽ áp dụng khoa học kỹ thuật sản xuất trên dây truyền đa dạng mặt hàng gồm các phần mềm, máy móc, động cơ,. sau đó bán ra đem lại doanh thu. Nông lâm ngư nghiệp: Đây là hệ thống liên kết vòng tròn mô hình nông nghiệp - lâm nghiệp - ngư nghiệp cùng phát triển hỗ trợ tương tác trong các nông trường, trang trại, nông trại, ruộng nương,. mô hình này thu lợi từ việc cung cấp lương thực, thực phẩm, cây trồng tới người tiêu thụ.
Vận tải: Có nhiệm vụ lưu thông, sản xuất thực hiện vận chuyển người và hàng hóa từ nơi này đến nơi khác như vận tải đường bộ, vận tải hàng không, vận tải đường thủy và thu lợi nhuận từ phí vận chuyển. Bán lẻ và phân phối: Dịch vụ này là một trung gian cung cấp hàng hóa từ nơi sản xuất tới người tiêu dùng. Hiện nay hoạt động dịch vụ rất là phổ biến, có rất 3 nhiều doanh nghiệp, tư nhân thành lập nâng cao chất lượng chăm sóc khách hàng tốt nhất, đáp ứng mọi yêu cầu từ khách hàng. Ngoài ra, mọi người trên thế giới kinh doanh đều có mục đích là thu được lợi nhuận; lợi nhuận càng nhiều, càng tốt.
Muốn có lợi nhuận, người kinh doanh phải tạo ra sản phẩm, dịch vụ cụ thể nào đó được người mua chấp nhận. Muốn có nhiều lợi nhuận, điều kiện đầu tiên là sản phẩm, dịch vụ phải được nhiều người chấp nhận: càng được nhiều người chấp nhận; càng bán được nhiều hàng. Như thế, kinh doanh gắn với loại sản phẩm, dịch vụ cụ thể và không phải sản phẩm, dịch vụ thông thường mà là sản phẩm, dịch vụ phải được càng nhiều người mong muốn sử dụng, càng tốt. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế có những sự thay đổi về chất, do đó, tính chất của các hoạt động kinh doanh cũng thay đổi theo.
Điều đó đòi hỏi phải xác định lại khái niệm kinh doanh cho phù hợp với các thuộc tính vốn có của nó. Trong những năm 90 của thế kỉ trước, một số văn bản luật như Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và mới nhất là Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã có những quy định ghi nhận khái niệm kinh doanh. Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”.2 Các vấn đề cơ bản của kinh doanh Sản phẩm, dịch vụ kinh doanh Khi tiến hành kinh doanh người ta hay nghĩ đến kinh doanh một loại sản phẩm, dịch vụ hoàn chỉnh. Ngày nay xã hội càng phát triển, người kinh doanh dần nghĩ đến việc chỉ sản xuất hay cung cấp một, một số ít sản phẩm bộ phận (bán thành phẩm) hoặc dịch vụ cụ thể (chưa là dịch vụ hoàn chỉnh cuối cùng).
Theo xu hướng đó, doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ hoàn chỉnh thường chỉ đảm nhiệm việc sản xuất, chế biến các bộ phận cơ bản, tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, dịch vụ và chuyển các bộ phận khác cho các doanh nghiệp khác 4 sản xuất (doanh nghiệp hỗ trợ). Ví dụ, Đối với hãng SamSung, nếu trước đây họ sản xuất tất cả hoặc hầu như tất cả các bộ phận cấu thành nên chiếc Tivi thì càng về sau, hãng này càng chỉ tập trung sản xuất một số bộ phận của chiếc Tivi; hãng sẽ đặt hãng khác sản xuất những bộ phận, chi tiết khác để lắp ráp thành chiếc Tivi hoàn chỉnh bán cho khách hàng. Hoặc đối với các doanh nghiệp sản xuất điện thoại trên thế giới hiện nay cũng như vậy. Kinh doanh một hay nhiều loại sản phẩm, dịch vụ? Nếu người kinh doanh chỉ kinh doanh một loại sản phẩm, dịch vụ thì được gọi là kinh doanh đơn ngành.
Ngược lại, nếu người kinh doanh thực hiện kinh doanh nhiều loại sản phẩm, dịch vụ khác nhau thì gọi là đa ngành. Ví dụ, trước đây nhà máy đường Biên Hòa chỉ sản xuất loại sản phẩm đường (đơn ngành), ngày nay vừa sản xuất đường, bánh kẹo, phân bón vi sinh …vv (đa ngành). Trước đây các ngân hàng chỉ thực hiện dịch vụ tín dụng (đi vay và cho vay tiền); càng về sau, ngân hàng càng vươn ra thực hiện nhiều loại dịch vụ khác như đầu tư, bảo hiểm, tư vấn,.