CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NẮNG NÓNG 1.1 Khái niệm Nắng nóng là một hiện tượng thời tiết đặc biệt thường xảy ra trong những tháng mùa hè. Biểu hiện của hiện tượng nắng nóng là nền nhiệt độ trung bình ngày khá cao và thể hiện rõ nét hơn ở nhiệt độ cao nhất trong ngày (Tx ngày). Hiện tượng nắng nóng có hai biến thể là khô nóng và nóng ẩm.
Hiện tượng khô nóng xảy ra khi Tx cao, trời ít mây, và độ ẩm thấp. Trong khi đó, khi Tx cao, trời nhiều mây và độ ẩm cao thì xuất hiện hiện tượng nóng ẩm (hay còn gọi là oi nóng). Trong những ngày nắng nóng, hiện tượng mưa rào và dông thường xuất hiện vào lúc chiều tối. Trong giới hạn luận văn này, ngày xuất hiện nắng nóng và nắng nóng gay gắt được xác định tương ứng là ngày có Tx ≥ 350C và Tx ≥ 370C.2 Một số trung tâm gây nắng nóng Nguyên nhân gây ra hiện tượng nắng nóng là do các hình thế thời tiết tác động gây ra hiện tượng nhiệt độ cao trên một khu vực nào đó.
Theo Nguyễn Viết Lành [1] thì các trung tâm chính gây ra nắng nóng ảnh hưởng tới Việt Nam gồm áp thấp Nam Á, áp cao Thái Bình Dương (ACTBD), và áp thấp Trung Hoa. Áp thấp Nam Á là một áp thấp nhiệt lực, bán vĩnh cửu, hình thành trong mùa hè do mặt đệm bị nung nóng mạnh mẽ. Vào mùa hè, khi được hình thành, áp thấp Nam Á mở rộng phạm vi về phía tây bao gồm cả áp thấp Bắc Phi và mở rộng sang phía đông tới Ấn Độ - Miến Điện và phía nam Trung Quốc, nhiều khi bao trùm cả lãnh thổ Trung Quốc và lân cận, hoặc mở rộng tới cả bán đảo Đông Dương, đặc biệt là phần lãnh thổ phía bắc Việt Nam. Với nhiệt độ không khí ban ngày lên đến 50oC và khí áp dưới 1000mb ở khu vực trung tâm, đây là vị trí hình thành khối không khí khô nóng nhất, ở trung tâm hầu như không có mưa.
Khối không khí này ảnh hưởng đến Việt Nam trong các tháng đầu và giữa mùa hè dưới hình thế rìa đông nam của áp thấp nóng phía tây. 3 Luan van Hình 1.1 Hình thế áp thấp Nam Á ảnh hưởng đến thời tiết Việt Nam, bản đồ mực 1000mb(trái) và mực 850(phải). ACTBD là một áp cao động lực, về mùa hè, khi áp cao này bao trùm lãnh thổ Việt Nam và các vùng lân cận như Hoa Nam (Trung Quốc) hay vùng thượng Lào trong một lớp khí quyển dày tầng đối lưu, thì Việt Nam bao trùm một dòng giáng quy mô lớn khiến độ trong suốt của khí quyển tăng lên, độ chiếu nắng của mặt trời rất lớn, mặt đệm được nung nóng nhiều hơn. Trong các lớp không khí sát đất, nhiệt độ không khí tăng cao, áp thấp nóng mở rộng phạm vi, các trung tâm áp thấp được khơi sâu, hoàn lưu xoáy thuận được tăng cường, gió tây và tây nam thổi mạnh, thời tiết nắng nóng được hình thành.
Nắng nóng xảy ra trên diện rộng là do tác động trực tiếp của áp cao Thái Bình Dương mạnh và lấn sâu sang phía tây, còn hiện tượng phơn địa hình do gió mạnh chỉ đóng vai trò tăng cường ở các địa phương có các dãy núi đón gió mà thôi.2 Hình thế áp cao Thái Bình Dương ảnh hưởng đến thời tiết Việt Nam, bản đồ mực 850mb(trái) và mực 500(phải). 4 Luan van Áp thấp Trung Hoa là một áp thấp nhiệt lực được hình thành trên lục địa Trung Quốc trong những tháng mùa hè khi nền nhiệt độ của vùng lục địa này tăng lên một cách đáng kể trong khi áp cao lạnh lục địa suy yếu và rút sang phía tây. Áp thấp Trung Hoa chỉ hoạt động trong các tháng mùa hè. Nó là trung tâm hút gió từ bán cầu Nam lên, từ các áp cao lục địa vùng vĩ độ cao và từ ACTBD vào nên nó có vai trò như một áp thấp trong rãnh gió mùa của gió mùa Đông Á.
Như vậy, cường độ của áp thấp này có ý nghĩa nhất định đối với cường độ của gió mùa Đông Á. Bên cạnh đó, khi áp thấp này hoạt động mạnh và lấn xuống phía nam, đặc biệt là khi trong nó hình thành một dải áp thấp sâu, với những tâm thấp khép kín trên đó, chạy theo hướng đông đông bắc - tây tây nam vùng lưu vực sông Trường Giang thì hình thế front tĩnh Meiyu được hình thành trên lưu vực sông này và gây mưa kéo dài ở đây với tần số cao trong thời kì tháng 6, 7. Bên cạnh đó, hình thế này lại có thể trở thành nhân tố tạo ra những đợt nắng nóng, có khi là nắng nóng gay gắt cho các tỉnh miền Bắc Việt Nam.3 Hình thế áp thấp Trung Hoa ảnh hưởng đến thời tiết Việt Nam, bản đồ mực 1000mb(trái) và mực 850(phải).3 Đặc điểm địa hình và khí hậu trên khu vực Đông Bắc 1.1 Địa hình Hình 1.4 Bản đồ địa hình khu vực Đông Bắc. Ranh giới địa lý phía Tây của vùng Đông Bắc còn chưa rõ ràng.
Chủ yếu do chưa có sự nhất trí giữa các nhà địa lý học Việt Nam về ranh giới giữa vùng Tây Bắc và vùng Đông Bắc nên là Sông Hồng, hay nên là dãy núi Hoàng Liên Sơn. Vùng Đông Bắc được giới hạn về phía Bắc và Đông bởi đường biên giới Việt - Trung, phía Đông Nam trông ra Vịnh Bắc Bộ, phía Nam giới hạn bởi dãy núi Tam Đảo và vùng Đồng Bằng châu thổ Sông Hồng. Đây là vùng núi và Trung Du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất. Phần phía Tây, được giới hạn bởi thung lũng Sông Hồng và thượng nguồn Sông Chảy, cao hơn, được cấu tạo bởi đá granit, đá phiến và các cao nguyên đá vôi.
Thực chất, đây là rìa của cao nguyên Vân Nam. Những đỉnh núi cao của vùng Đông Bắc đều tập trung ở đây, như Tây Côn Lĩnh, Kiêu Liêu Ti. 6 Luan van Phần phía bắc sát biên giới Việt-Trung là các cao nguyên (Sơn Nguyên) lần lượt từ Tây sang Đông gồm: cao nguyên Bắc Hà, cao nguyên Quản Bạ, cao nguyên Đồng Văn. Hai cao nguyên đầu có độ cao trung bình từ 1000–1200 m.
Cao nguyên Đồng Văn cao 1600 m. Sông Suối chảy qua cao nguyên tạo ra một số hẻm núi dài và sâu. Cũng có một số Đồng Bằng nhỏ hẹp, đó là Thất Khê, Lạng Sơn, Lộc Bình, Cao Bằng. Phía Đông, từ trung lưu Sông Gâm trở ra Biển, thấp hơn có nhiều dãy núi hình vòng cung quay lưng về hướng Đông lần lượt từ Đông sang Tây là vòng cung Sông Gâm, Ngân Sơn-Yên Lạc, Bắc Sơn, Đông Triều.
Núi mọc cả trên Biển, tạo thành cảnh quan Hạ Long nổi tiếng. Các dãy núi vòng cung này hầu như đều trụm đuôi lại ở Tam Đảo. Phía Tây Nam, từ Phú Thọ, Nam Tuyên Quang, Nam Yên Bái, và Thái Nguyên sang Bắc Giang thấp dần về phía Đồng Bằng. Người ta quen gọi phần này là "vùng Trung Du".
Độ cao của phần này chừng 100–150 m, đặc trưng của vùng Trung Du là có vùng Đồng Bằng khá rộng bị chia cắt bởi gò đồi. Vùng Đông Bắc có nhiều sông chảy qua, trong đó các sông lớn là Sông Hồng, Sông Chảy, Sông Lô, Sông Gâm (thuộc hệ thống Sông Hồng), Sông Cầu, Sông Thương, sông Lục Nam (thuộc hệ thống sông Thái Bình), Sông Bằng, sông Bằng Giang, sông Kỳ Cùng, v. Vùng biển Đông Bắc có nhiều đảo lớn nhỏ, chiếm gần 2/3 số lượng đảo biển của Việt Nam (kể cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).2 Khí hậu Mùa đông nắng ít, lạnh, nhiều năm có sương muối, nhiều mưa phùn. Mùa hè, chịu ảnh hưởng của nhiều trung tâm khí áp gây nắng nóng, mức độ nắng nóng rất gay gắt và đặc biệt gay gắt.
Nhiệt độ trung bình năm 18 – 23oC (núi cao 14 - 18 oC). Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất 26 - 28 oC. Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 38 - 41 oC. Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất 12 - 16 oC.
Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối -2 - 2 oC. Biên độ năm của nhiệt độ 12 - 14 oC. 7 Luan van Lượng mưa trung bình năm khoảng 1400 - 2000mm. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 nhưng chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9.
Các tháng mưa nhiều nhất là 6, 7 và 8. Lượng bốc hơi trung bình năm khoảng 600 - 1000mm. Độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng 82 - 85%. Hạn hán thường xảy ra vào mùa đông dù có mưa phùn khá nhiều vào cuối mùa.4 Tổng quan một số nghiên cứu về nắng nóng 1.1 Trên thế giới Tianjun Zhou, Shuangmei Ma, and Liwei Zou (2014), Sử dụng dữ liệu quan trắc của 756 trạm Trung Quốc.
Nhiệt độ trung bình năm 2013 ở Trung Quốc là cao thứ tư kể từ năm 1961. Nó cao hơn 0,6°C so với trung bình nhiều năm và cao hơn 0,8°C so với năm 2012 [2]. Nghiên cứu xu hướng biến đổi về nhiệt độ và lượng mưa của Canada trong thế kỷ XX. Xuebin Zhang, Lucie A.
Hogg và Ain Niitsoo (2000) đã dùng số liệu về nhiệt độ ngày trong giai đoạn 1900 – 1998 trên khu vực nam Canada và giai đoạn 1950 - 1998 trên toàn bộ đất nước. Kết quả cho thấy từ năm 1900 – 1998, nhiệt độ trung bình hằng năm tăng từ 0.5oC ở phía Nam Canada, tập trung vào mùa xuân và mùa hè [3]. Trong Nghiên cứu xu thế biến đổi của nhiệt độ và lượng mưa trên một số vùng của Australia của nhóm tác giả G. Kuleshov năm năm 2013, đã sử dụng số liệu quan trắc và số liệu tái phân tích được lấy từ Trung tâm khí tượng Australia.
Kết quả cho thấy nhiệt độ trung bình năm và nhiệt độ tối thấp ở vùng tây Australia tăng lên trong giai đoạn 1960 - 2012. Trong giai đoạn 1907 - 2012, nhiệt độ tại Australia tăng trung bình khoảng 10C [4]. Nghiên cứu xu thế biến đổi của nhiệt độ tối cao và tối thấp hàng ngày trên 28 trạm ở Nam Phi trong giai đoạn 1962 – 2009, A. Sekele (2013) cho rằng, cực đoan nóng tăng lên và cực đoan lạnh giảm cho tất cả các trạm.
Đặc biệt, các cực đoan này có xu thế biến đổi mạnh hơn trên các khu vực phía Tây, Đông và Đông Bắc của vùng này [5]. 8 Luan van Kiktev và cộng sự (2003) đã so sánh những cực trị quan trắc được tại trạm với những mô phỏng của mô hình khí quyển GCM (HadAM3) có tính đến tác động của Đại dương và bức xa nhân tạo trog khoảng thời gian từ năm 1950- 1995. Các tác giả đã nhận thấy cần phải tính đến cả bức xạ nhân tạo để có thể mô phỏng những thay đổi quan trắc được trong những cực trị nhiệt độ, đặc biệt là trên những quy mô không gian lớn.