Chương 1 TỎNG QUAN 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên tại thành phố Hồ Chí Minh 1. Vị trí địa lý Thành phố Hồ Chí Minh nằm theo hướng Tây Bắc — Đông Nam, có toa độ địa lý 10°10'— 10°38' vĩ độ Bắc và 106°22' — 106°54' kinh độ Đông. - Phía bắc giáp tỉnh Bình Dương.
- Phía tây giáp tỉnh Tây Ninh và tỉnh Long An - Phía đông giáp tinh Đồng Nai và Ba Rịa — Vũng Tàu. - Phía nam giáp Biển Đông và tỉnh Tiền Giang Thành phố Hồ Chí Minh có tông diện tích tự nhiên là 2.095 km2, với đường bờ biển dài 23 km thuộc huyện Cần Giờ và là cửa ngõ giao thông quốc tế với các khu kinh tế trong điểm phía Nam. Trong đó có khu dự trữ sinh quyên của thế giới được UNESCO công nhận vào năm 2000. (HCM CityWeb, 2011) Thành phố có 22 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm: 16 quận, 5 huyện và 1 thành phố.
Dân số đạt hơn 9.800 triệu dan với mật độ dân số 4.375 người/km? (Tổng cục Thống kê, 2021). Khu vực nghiên cứu là một đô thị lớn với cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển khá toàn diện về mặt giao thông thủy, đường sắt, đường bộ và hàng không. Thành phố cũng là trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nam giữa đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên. Từ đó, đã tạo nên sự giao thoa về phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng, giúp đây mạnh phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa của khu vực.
HCM CityWeb, 2011) BẢN ĐÒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH 106'20ữE 106' WOE 106"420E 1606' ‘UE 10709" Tây Ninh Binh Dương A z £1) z vse! oun ute4 ca Quảng ` Oete 8 & 2 [il ton oev2 lì — màn z BỊ } } Ẽ = Tién Giang } Ẽ lần Ế >>. 0255 10 15 20 Ễ Kilometers |Ễ § 108'20ữE 106'0E 106470 108'5ữE 107'00% š Hình 1. Bản đồ hành chính thành phố Hồ Chí Minh (Nguôn: Ủy ban nhân dân TPHCM, 2020) 1. Điều kiện tự nhiên 1.1 Đặc điểm địa hình và địa chất khu vực nghiên cứu Địa hình khu vực nghiên cứu tương đối phẳng và thấp với một số gò trién phía Tây - Bắc và Đông - Bắc, cao độ địa hình có khuynh hướng giảm dan từ phía Tây - Bắc về phía Nam và Đông - Nam.
Với hơn 69% diện tích đất khu vực có địa hình thấp (< 2m) thường xuyên gây ngập lụt khi có triều cường dâng cao hoặc mưa to (Sở Tài nguyên Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, 2017) Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Hồ Chí Minh, địa hình khu vực có một phần TP. Thủ Đức, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình từ 5 — 10 m (Sở NNPTNT thành phố Hồ Chí Minh, 2011). Theo bản đồ địa hình của khu vực, phía Đông Nam của thành phố (huyện Cần Giờ) có địa hình rất thấp, được thé hiện qua hình 1.2 như sau: BAN ĐỒ DIA HÌNH THÀNH PHO HO CHÍ MINH ( ĐỘ CAO TỪO0.50M ) Ty lệ : 1/280 000 Nguồn: Sở NN&PTNT TP.Hồ Chí Minh — 2007 Đường giao thong nét Ranh giới Phường. Xã ~~—~ Ranh giới Quận.
Huyện —— Ranh giới tính. Thanh pho ' Cau giao thong ——] Song Vung địa bình. Ban đồ địa hình Thành phố Hồ Chí Minh (Nguon: Sở NN &PTNT, năm 2011) Khu vực nghiên cứu được hình thành trên các loại trầm tích Pleistocen và Holocen (Sở TNMT thành phố Hồ Chí Minh,2017). Trầm tích phù sa cô (Pleistocen) chiếm hau hết phan phía Bắc, Tây Bắc và Dong Bắc thành phố.
“cue eae “6 “ «“ - oe Sd. oo oe TM 7s TM TE tT at i i i ẩ ẩ 3 i ẩ bị 2 3 j 4 ẩ kí 3 i : ‡ š i § i 178 CHỈDẪN +BICHẤT : Metin Chagas ta 4179 ere rock’ l[ lỗN-===S=isseariur.e h s TE€Ấ€ KÝ tỆC Ruú€ „ĐÁ th vnđ it Raion ˆ nIỆN VŨNG DLA CHẤT CONG TRÌNH Hình 1. Bản đồ địa chất khu vực thành phố Hồ Chí Minh (Nguồn: Sở NN &PTNT, năm 2011) Trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất xám đặc trưng riêng dưới tác động của các yêu tố tự nhiên và hoạt động của con người. Với hơn 45 nghìn hecta (chiếm 23,4 % diện tích), đất xám ở đây ghi nhận được ba loại: đất xám cao, đất xám có tang loang 16 đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn TP.
Có địa hình d6i gò hoặc lượn sóng, cao từ 20 — 25 m và xuống tới 3 — 4 m, mặt nghiêng về hướng Đông Nam (HCM CityWeb, 2011) Trầm tích phù sa trẻ (Holocen) ở khu vực hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm dat phù sa có diện tích 15.100 ha (7,8%), nhóm dat phèn 40.800 ha (21,2%) và đất phèn mặn: 45. Ngoài ra, "gidéng" cát gần biển với điện tích nhỏ khoảng hơn 400 ha (0,2%) và đất feralite vàng nâu bị xói mòn tro sỏi đá ở vùng đồi gò (HCM CityWeb, 2011). Loại trầm tích này có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi. Đặc điểm khí hậu Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, đặc điểm thời tiết được chia làm hai mùa rõ rệt.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, nền nhiệt có mức độ dao động lớn giữ các khoảng thời gian. Nhiệt độ trung bình có mức độ biến thiên phần lớn từ 26,9 — 29,0°C, với giá trị trung bình nhiều năm khoảng 27,9°C (Cục Thống kê TPHCM, 2022). Trạm Tân Sơn Hòa đN°hCiộệ)t | 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tháng =—8— Nam 2015 =—@— Nam 2018 =@— Nam 2019 =—®— Nam 2020 =e Nam 2021 Hình 1. Biéu đồ thé hiện nhiệt độ không khí trung bình từ năm 2015-2021 tại trạm Tân Sơn Hòa (Nguồn: Cục Thống kê TPHCM, 2022) Số giờ nắng tại khu vực nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2015 đến 2021 dao động tương đối cao khoảng 2.381 giờ và phân phối khá đều ở các tháng trong năm.
Đặc biệt, trong năm 2015 số giờ nắng tăng rất cao đến 2. Số giờ nang cao tập trung vào các tháng 3, 4, 5 và ít nhất vào thang 10,11, 12. Những năm gần đây do sự thay đổi của khí hậu toàn cầu, số giờ nắng trong năm có xu hướng giảm. 10 Trạm Tân Sơn Hòa 300 (Giờ) gnôiadg 5 h2 00 Sá 150 100 50 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 — 11 I2 Thang =—@=— Nam 2015 =—@= Nam 2018 =—@= Nam 2019 =—®— Nam 2020 =e Nam 2021 Hình 1.
Biéu đồ thé hiện số giờ nắng trong năm từ năm 2015-2021 tại tram Tan Sơn Hòa (Nguôn: Cục Thống kê TPHCM, 2022) Tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh lượng mưa phân bố không đều, có khuynh hướng tăng dần theo trục Tây Nam - Đông Bắc. Các quận huyện phía Nam và Tây Nam có lượng mưa thấp hơn các khu vực còn lại. Lượng mưa cao nhất ghi nhận với mức bình quân/năm là 2.403 mm vào năm 2018, với số ngày mưa trung bình/năm là 159 ngày (Cục thống kê TPHCM, 2022). Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11; trong đó hai tháng 6 và 9 thường có lượng mưa cao nhất (Cục thống kê TPHCM, 2022).
Các tháng còn lại với lượng mưa rất ít, không đáng kể. 11 Trạm Tân Sơn Hòa 600 500 (Lưmợan)g 400 300 100 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 ll 12 Thang =—@— Nam 2015 =@= Nam 2018 =—@=— Nam 2019 =—®— Nam 2020 =e Nam 2021 Hình 1. Biéu đồ thể hiện lượng mưa trong năm từ năm 2015-2021 tại trạm Tan Sơn Hòa (Nguon: Cục Thống kê TPHCM, 2022) Về cường độ mưa, trạm Phạm Văn Cội được đánh giá có tổng lượng mưa năm cao nhất, với giá trị trung bình và trung vị lớn hơn 2.150 mm và được ước tính cao hơn khoảng 2 lần so với giá trị ghi nhận tại trạm Cần Giờ (khoảng 1.050 mm); Các trạm quan trắc còn lại có lượng mưa trung bình hang năm phô biến từ 1.800 mm, với độ 4m tương đối của không khí bình quân/năm 79,5% (Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, 2021). Theo báo cáo Đánh giá khí hậu TP.
Hồ Chí Minh (2021), tổng lượng mưa năm tại các trạm Cần Giờ, Xi Măng Thủ Đức và Phạm Văn Cội có mức độ biến thiên cao nhất trong 40 năm trở lại đây (sự chênh lệch từ 650 — 900 mm). Các xu thé biến đổi lượng mưa tại các trạm quan trắc tại khu vực nghiên cứu: 12 Bang 1. Bảng xu thé biến đôi lượng mưa tại khu vực TP. Hồ Chi Minh „ Xuthếbiến Độ dốcxuthế Độ tin cậy Trạm quan trắc đỗi lượng mưa (mm/năm) (%) Cần Giờ Tăng cao 16,1 95 Hóc Môn Tăng cao 14,8 99 Phạm Văn Cội, Tam Thôn Hiệp, XI Măng Thủ Đức, Tân Sơn Hoà, Bình Chánh, Lê Minh Xuân, An ake dae an Phu, Long Son va Mac Dinh Chi.
Cát Lái, Củ Chi va Nhà Bè Giảm nhẹ -0,4 đến -6,1 - (Nguôn: Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chi Minh, 2021) Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính và chủ yếu là gió mùa Tây - Tây Nam (tốc độ trung bình là 3,6 m/s) và Bắc - Đông Bắc (tốc độ trung bình 2,4 m/s). Gió Tây - Tây Nam từ Ấn Độ Dương thổi vào trong mùa mưa, và gió thôi mạnh nhất vào tháng 8, tốc độ trung bình 4,5 m/s. Gió Bắc - Đông Bắc từ biên Đông thổi vào trong mùa khô. Ngoài ra có gió tín phong, hướng Nam - Đông Nam, khoảng từ tháng 3 đến tháng 5 tốc độ trung bình 3,7 m/s.
Chế độ thủy văn Mạng lưới sông ngòi tại khu vực nghiên cứu thuộc hạ lưu hệ thống sông Sài Gòn — Đồng Nai, chịu tác động chủ yêu từ sông Sài Gòn, Đồng Nai và sông Vàm Co. Với mạng lưới sông khá phức tap và chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông. Từ đó, tạo nên nhiều vùng giáp nước giúp cho quá trình lắng đọng và tích tụ ô nhiễm trên kênh rạch diễn ra càng nhanh. Sông Sai Gòn ảnh hưởng rat lớn đến quá trình ngập ting, tiêu thoát nước (chảy qua 10 quận/huyện và vùng trung tâm của thành phố) các sông, kênh rạch cấp dưới: Được phân theo vùng và đóng vai trò khung trục tiêu thoát cho từng vùng (Nguyễn Văn Hồng, 2017).
Sông Sài Gòn có diện tích lưu vực 4.500 km’, chiều dai 250 km (trên địa phận TP. Hồ Chí Minh khoảng 80 km); đoạn từ Thủ Dau Một (Bình Dương) 13 trở xuống có độ dốc nhỏ (0,7%) nên khá thuận lợi cho phát triển giao thông đường thủy (Sở TNMT thành phố Hồ Chí Minh, 2017).