Tổng quan nghiên cứu

Thalassemia là hội chứng tan máu bẩm sinh di truyền lặn phổ biến hàng đầu trên thế giới với hơn 500 dạng đột biến gen globin đã được ghi nhận. Tại Việt Nam, tỷ lệ mang gen bệnh trong cộng đồng có sự phân bố phức tạp theo từng khu vực địa lý và dân tộc, đặc biệt tăng cao ở mức 10% đến 30% tại các tỉnh miền núi Đông Bắc. Hằng năm, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên tiếp nhận khoảng 300 đến 500 lượt bệnh nhân mắc Thalassemia thể nặng đến điều trị truyền máu và thải sắt định kỳ. Đây là áp lực rất lớn đối với hệ thống y tế công cộng cũng như chất lượng dân số trong khu vực.

Thách thức lớn nhất trong thực tiễn lâm sàng là các phương pháp xét nghiệm huyết học truyền thống như tổng phân tích tế bào máu hay điện di huyết sắc tố chỉ đóng vai trò định hướng sàng lọc. Những kỹ thuật này không thể xác định chính xác các trường hợp người lành mang gen dị hợp tử thể ẩn hoặc phục vụ chẩn đoán tiền làm tổ và chẩn đoán trước sinh. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, nghiên cứu được triển khai nhằm ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử Multiplex Polymerase Chain Reaction (Multiplex-PCR) để sàng lọc và xác định các dạng đột biến gen globin phổ biến trên 58 bệnh nhân Thalassemia điều trị tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 1 năm 2018. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu di truyền học phân tử có giá trị thực tiễn cao, hỗ trợ đắc lực cho công tác tư vấn tiền hôn nhân, sàng lọc trước sinh và giảm thiểu tối đa tỷ lệ trẻ sinh ra mắc bệnh thể nặng tại 6 tỉnh miền núi phía Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng di truyền học phân tử người và cơ chế di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường của hội chứng Thalassemia. Cấu trúc phân tử Hemoglobin (Hb) bình thường ở người trưởng thành (HbA) chiếm khoảng 95%, cấu tạo bởi 2 chuỗi alpha-globin (141 acid amin) mã hóa bởi cụm gen trên cánh ngắn nhiễm sắc thể 16 (16p13.3) và 2 chuỗi beta-globin (146 acid amin) mã hóa bởi cụm gen trên cánh ngắn nhiễm sắc thể 11 (11p15.5) có kích thước 60 kb.

Sự suy giảm hoặc mất hoàn toàn khả năng tổng hợp chuỗi globin dẫn đến mất cân bằng tỷ lệ chuỗi alpha/beta. Chuỗi globin dư thừa tự kết tủa tạo thành các hạt vùi nội bào phá hủy màng hồng cầu ngay trong tủy xương, gây nên hiện tượng sinh hồng cầu không hiệu quả và thiếu máu huyết tán mạn tính. Đột biến gen beta-globin (HBB) được phân chia thành dạng beta0 (mất hoàn toàn chức năng như Cd17, Cd41/42) và beta+ (giảm chức năng như nt-28, IVS2-654) cùng các biến thể cấu trúc như Cd26 tạo Hemoglobin E (HbE). Đột biến gen alpha-globin (HBA1, HBA2) chủ yếu là các đột biến mất đoạn lớn (alpha0 như đột biến kiểu Đông Nam Á --SEA, --THAI, --FIL) hoặc mất đoạn nhỏ (alpha+ như -alpha3.7, -alpha4.2) và đột biến điểm không mất đoạn như Hb Constant Spring.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang trên cỡ mẫu gồm 58 bệnh nhân đã có chẩn đoán xác định Thalassemia trên lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để thu thập toàn bộ các trường hợp đủ tiêu chuẩn trong thời gian từ tháng 1/2017 đến tháng 1/2018. Bệnh phẩm là 3 ml máu tĩnh mạch chống đông bằng EDTA lấy trước khi truyền máu.

Quy trình phân tích gồm 3 giai đoạn:

  • Sàng lọc huyết học: Sử dụng máy phân tích tự động 18 thông số Celltac F để đánh giá chỉ số thể tích trung bình hồng cầu (MCV < 80 fL) và lượng huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCH < 27 pg), kết hợp hệ thống điện di mao quản Minicap (Sebia) xác định thành phần tỷ lệ các phân đoạn Hb.
  • Tách chiết DNA: Sử dụng kit tách cột silica thương mại của hãng QIAGEN (Đức). Nồng độ và độ tinh sạch của DNA được kiểm tra nghiêm ngặt qua phổ hấp thụ quang học NanoDrop với tỷ số OD260/OD280 đạt chuẩn từ 1,8 đến 2,0 và nồng độ luôn đạt trên 200 ng/µL.
  • Phân tích đột biến gen: Áng dụng kỹ thuật Multiplex ARMS-PCR chia thành 3 hệ thống phản ứng (beta 1, beta 2, beta 3) phát hiện 9 đột biến beta-globin phổ biến và kỹ thuật Gap-PCR đa mồi phát hiện 5 đột biến mất đoạn alpha-globin (--SEA, --THAI, --FIL, -alpha3.2, -alpha3.7). Các trường hợp nghi ngờ mang đột biến hiếm được kiểm chứng bằng phương pháp giải trình tự gen Sanger.

Việc lựa chọn hệ thống Multiplex ARMS-PCR và Gap-PCR là giải pháp tối ưu nhờ khả năng phát hiện đồng thời nhiều alen trong một phản ứng, rút ngắn thời gian xét nghiệm xuống còn 4 đến 6 giờ, tiết kiệm đáng kể hóa chất và chi phí so với kỹ thuật giải trình tự toàn bộ hoặc kit lai phân tử Strip Assay thương mại đắt tiền.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích di truyền trên 58 bệnh nhân đã xác định được 43 trường hợp mang đột biến gen beta-globin (tổng số 86 alen) và 15 trường hợp mang đột biến gen alpha-globin (tổng số 30 alen):

  • Đối với beta-thalassemia: 100% bệnh nhân (43/43 ca) đều phát hiện được ít nhất một đột biến trên panel thử nghiệm. Kiểu gen dị hợp tử kép chiếm tỷ lệ cao nhất với 60,5% (26 ca), trong đó có 16 ca phối hợp với đột biến HbE (chiếm 37,2%). Kiểu gen đồng hợp tử chiếm 27,9% (12 ca) và dị hợp tử đơn chiếm 11,6% (5 ca).
  • Phân bố alen beta đột biến: Alen Cd41/42 (-TTCT) chiếm ưu thế tuyệt đối với 37,1% (32/86 alen), tiếp theo là Cd17 (A>T) chiếm 22,1% (19/86 alen) và Cd26 (HbE) chiếm 19,8% (17/86 alen). Đột biến Cd71/72 (+A) chiếm 7,0% (6 alen), các đột biến IVS1-1, IVS2-654 và nt-28 chiếm tỷ lệ nhỏ. Phương pháp giải trình tự Sanger đã phát hiện thêm 1 trường hợp mang đột biến hiếm Cd-90 ngoài panel thường quy.
  • Đối với alpha-thalassemia: Trong 15 bệnh nhân, đột biến mất đoạn --SEA chiếm tỷ lệ áp đảo với 66,6% ở thể dị hợp tử đơn (10 ca) và 26,7% ở thể dị hợp tử kép --SEA/-alpha3.7 tạo nên kiểu hình bệnh HbH (4 ca). Đột biến mất đoạn nhỏ -alpha3.7 đơn thuần chiếm 6,7% (1 ca). Alen --SEA xuất hiện với tần số 14/30 alen khảo sát.
  • Mối tương quan kiểu gen và huyết đồ: Các kiểu gen đồng hợp tử beta0/beta0 thể hiện mức độ thiếu máu rất nặng với số lượng hồng cầu (RBC) giảm mạnh còn 2,3 ± 0,7 x 10^12/L và huyết sắc tố (Hb) chỉ đạt 55,5 ± 16,8 g/L. Ngược lại, nhóm dị hợp tử đơn beta có nồng độ Hb duy trì ở mức 81,8 ± 13,5 g/L và MCV đạt 74,9 ± 9,9 fL.

Thảo luận kết quả

Cơ chế bệnh sinh phân tử giải thích rõ ràng mức độ biểu hiện lâm sàng. Các đột biến dịch khung như Cd41/42 (-TTCT) hoặc đột biến vô nghĩa tạo codon kết thúc sớm như Cd17 (AAG>TAG) làm gián đoạn hoàn toàn quá trình dịch mã, dẫn đến kiểu hình beta0 không tạo ra chuỗi beta-globin. Khi kết hợp đồng hợp tử hoặc dị hợp tử kép với Cd26 (HbE), lượng chuỗi alpha tự do dư thừa rất lớn làm hồng cầu bị phá hủy ồ ạt, dẫn đến tình trạng thiếu máu trầm trọng, gan lách to và biến dạng xương sọ mặt.

So sánh với các nghiên cứu trong nước, tần số alen Cd41/42 (37,1%) và Cd17 (22,1%) tại Thái Nguyên có nét tương đồng với các báo cáo tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương (lần lượt là 35% và 25%). Tuy nhiên, điểm đặc thù là nghiên cứu này hoàn toàn không ghi nhận đột biến Cd95 (+A). Đây là đột biến vốn phổ biến ở người Kinh nhưng hầu như vắng mặt ở các nhóm dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc như Tày, Nùng, Dao.

Về alpha-thalassemia, tỷ lệ đột biến --SEA chiếm đa số phù hợp với đặc điểm dịch tễ Đông Nam Á (tại Hà Nội là 58,8%), khác biệt hoàn toàn với quần thể Malaysia (chỉ 0,5%) hay Trung Quốc (1,36%). Các trường hợp mang gen dị hợp tử --SEA/alpha-alpha có chỉ số MCV và MCH giảm nhưng điện di Hb hoàn toàn bình thường, rất dễ bị bỏ sót nếu không làm xét nghiệm sinh học phân tử. Về mặt trình bày dữ liệu, các biến thiên huyết học theo từng tổ hợp gen có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột phân bố tần số alen và biểu đồ hộp biểu diễn tương quan giữa chỉ số Hb, MCV đối với từng nhóm đột biến.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kiểm soát hiệu quả và tiến tới đẩy lùi bệnh Thalassemia tại khu vực Đông Bắc, nghiên cứu đưa ra 4 khuyến nghị trọng tâm:

  1. Chuẩn hóa và nâng cấp hệ sinh thái xét nghiệm phân tử: Bổ sung các cặp mồi phát hiện đột biến hiếm như Cd-90, -28 và các đột biến điểm alpha như Hb Constant Spring vào panel xét nghiệm Multiplex ARMS-PCR thường quy. Mục tiêu nâng độ nhạy phát hiện đột biến đạt trên 98% trong vòng 12 tháng tới, do Khoa Di truyền - Miễn dịch phân tử Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên chủ trì thực hiện.
  2. Thiết lập mạng lưới sàng lọc trước sinh và tiền hôn nhân: Triển khai quy trình sàng lọc 2 bước (bước 1: tổng phân tích tế bào máu với ngưỡng MCV < 80 fL, MCH < 27 pg; bước 2: phân tích gen) cho tối thiểu 80% cặp đôi chuẩn bị kết hôn và thai phụ tại 6 tỉnh miền núi Đông Bắc trong giai đoạn 2020-2025, do Sở Y tế các địa phương phối hợp với Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên quản lý.
  3. Mở rộng quy mô nghiên cứu dịch tễ học di truyền: Tăng cỡ mẫu khảo sát từ 58 ca lên 500 đến 1.000 mẫu trong thời gian 24 tháng nhằm lập bản đồ phân bố alen chi tiết theo từng phân nhóm dân tộc (Tày, Nùng, H'Mông, Sán Dìu), do Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên phối hợp các viện nghiên cứu chuyên ngành thực hiện.
  4. Đào tạo nhân lực và truyền thông giáo dục sức khỏe: Tổ chức các khóa tập huấn định kỳ hằng quý về tư vấn di truyền cho 100% cán bộ y tế tuyến huyện và xã, phấn đấu giảm 50% tỷ lệ trẻ sinh ra mắc Thalassemia thể nặng trong vòng 5 năm tới thông qua can thiệp chẩn đoán trước sinh kịp thời.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị cho 4 nhóm đối tượng:

  • Bác sĩ huyết học và chuyên viên xét nghiệm di truyền: Tiếp cận quy trình kỹ thuật Multiplex ARMS-PCR 3 bước được chuẩn hóa, giúp rút ngắn thời gian chẩn đoán xác định từ 4-6 giờ và ứng dụng trực tiếp vào việc đọc kết quả gel điện di đột biến tại phòng xét nghiệm.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Công nghệ sinh học, Y sinh học: Tham khảo phương pháp thiết kế mồi chuyên biệt, quy trình tách chiết DNA đạt tỷ số OD 1,8-2,0 bằng cột sắc ký và các mô hình xử lý thống kê y học bằng SPSS 20 trong nghiên cứu đột biến gen.
  • Cán bộ quản lý y tế và chuyên gia y tế công cộng: Khai thác dữ liệu dịch tễ học về tỷ lệ mang gen 10% đến 30% tại vùng Đông Bắc để xây dựng chính sách phân bổ nguồn lực y tế, dự trù ngân sách truyền máu và thải sắt cho hàng trăm bệnh nhân thể nặng mỗi năm.
  • Bác sĩ sản khoa và chuyên viên tư vấn di truyền: Sử dụng các dữ liệu về tương quan kiểu gen - kiểu hình để dự báo nguy cơ thai nhi mắc thể phù thai do đồng hợp tử --SEA/--SEA hoặc thể thiếu máu nặng do kết hợp Cd41/42 với HbE, từ đó hỗ trợ các cặp vợ chồng đưa ra quyết định sinh sản an toàn.

Câu hỏi thường gặp

Kỹ thuật Multiplex ARMS-PCR có ưu điểm gì vượt trội so với các phương pháp chẩn đoán khác? Phương pháp này cho phép phát hiện đồng thời nhiều đột biến điểm đã biết trong cùng một phản ứng khuếch đại DNA. Thời gian thực hiện chỉ mất 4 đến 6 giờ với chi phí hóa chất thấp hơn nhiều so với giải trình tự gen Sanger hay bộ kit lai phân tử Strip Assay thương mại đắt tiền, rất phù hợp triển khai thường quy tại các bệnh viện tuyến khu vực.

Tại sao đột biến Cd41/42 và Cd17 lại chiếm tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu? Trong số 86 alen beta được khảo sát, Cd41/42 chiếm 37,1% và Cd17 chiếm 22,1%. Đây là hai dạng đột biến dịch khung và vô nghĩa đặc trưng phổ biến nhất của cụm gen HBB trong quần thể người Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, phản ánh nguồn gốc phát sinh di truyền bền vững qua nhiều thế hệ.

Người mang gen dị hợp tử alpha Thalassemia thể SEA có biểu hiện lâm sàng như thế nào? Người mang gen dị hợp tử --SEA/alpha-alpha (chiếm 66,6% nhóm alpha trong nghiên cứu) là người lành mang gen. Họ hầu như không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt ngoài tình trạng hồng cầu nhỏ nhược sắc (MCV trung bình 80 fL, MCH 25,9 pg), điện di Hb không đổi, nhưng có nguy cơ sinh con bị phù thai tử vong nếu kết hôn với người cùng mang gen.

Tại sao nghiên cứu này không phát hiện đột biến Cd95? Đột biến Cd95 (+A) thường xuất hiện chủ yếu ở quần thể người Kinh tại đồng bằng. Nhóm đối tượng bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên phần lớn thuộc các dân tộc thiểu số vùng núi Đông Bắc (Tày, Nùng), nơi có cơ cấu dịch tễ và phân bố tần số alen gen globin mang tính đặc thù riêng biệt.

Cần xử trí thế nào khi bệnh nhân có biểu hiện thiếu máu nhưng xét nghiệm PCR thông thường không tìm thấy đột biến? Trường hợp bệnh nhân có kiểu hình lâm sàng và huyết đồ bất thường nhưng âm tính với panel PCR thông thường (như ca bệnh phát hiện đột biến Cd-90 trong nghiên cứu), cơ sở y tế cần chuyển mẫu lên tuyến trên để thực hiện kỹ thuật giải trình tự gen Sanger hoặc kỹ thuật MLPA nhằm xác định các đột biến điểm hiếm gặp hoặc đột biến mất đoạn phức tạp.

Kết luận

  • Ứng dụng thành công kỹ thuật sinh học phân tử Multiplex ARMS-PCR và Gap-PCR trong việc chẩn đoán xác định nhanh chóng, chính xác các đột biến gen globin phổ biến trên 58 bệnh nhân Thalassemia tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.
  • Phát hiện 14 kiểu tổ hợp gen beta-thalassemia với 7 loại alen đột biến; trong đó Cd41/42 (-TTCT) chiếm tỷ lệ cao nhất (37,1%), kế tiếp là Cd17 (22,1%) và Cd26/HbE (19,8%), đồng thời ghi nhận đột biến hiếm Cd-90.
  • Xác định đột biến mất đoạn lớn --SEA chiếm ưu thế tuyệt đối trong nhóm alpha-thalassemia với 66,6% ở thể dị hợp tử đơn và 26,7% ở thể dị hợp tử kép HbH phối hợp với mất đoạn nhỏ -alpha3.7.
  • Khẳng định mối tương quan chặt chẽ giữa kiểu gen phân tử và mức độ thiếu máu lâm sàng; các kiểu gen đồng hợp tử beta0/beta0 gây thiếu máu nặng nghiêm trọng (Hb trung bình giảm còn 55,5 ± 16,8 g/L).
  • Cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để thiết lập các panel mồi sàng lọc đặc thù cho đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi Đông Bắc, phục vụ trực tiếp cho chiến lược sàng lọc tiền hôn nhân và chẩn đoán trước sinh giai đoạn 2020-2025.

Các đơn vị y tế chuyên khoa và nhà nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng ngay quy trình Multiplex ARMS-PCR được tối ưu hóa trong luận văn để nâng cao năng lực chẩn đoán phân tử tại chỗ, góp phần giảm gánh nặng bệnh tật và nâng cao chất lượng dân số Việt Nam.