Chương 1 thể hiện các nội dung chính của đề tài nghiên cứu các yếu tố tác động lên động lực làm việc của nhân viên Nhà máy Sữa Thống Nhất; trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và những đóng góp của đề tài. Đây là chương quan trọng giúp định hình toàn bộ nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN TẠI DOANH NGHIỆP 2. KHÁI NIỆM ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là “Tại sao nhà quản lý cần phải động viên nhân viên?” (Herzberg 1959).
Theo Smith (1994), nhà quản lý cần thúc đẩy nhân viên vì sự sống còn của tổ chức. Amabile (1993) bổ sung nhận định trên rằng nhà quản lý và người đứng đầu tổ chức cần học cách để hiểu và động viên nhân viên một cách hiệu quả vì nhân viên có động lực sẽ giúp mang lại sự thành công cho Công ty. Amabile cũng cho rằng những nhân viên không có động lực thường chỉ dành một ít thời gian cho công việc hoặc né tránh công việc dẫn đến chất lượng công việc kém. Tuy nhiên nếu quá trình động viên hiệu quả thì hoạt động của tổ chức sẽ thay đổi nhanh chóng.
Thuật ngữ “động viên” (motivation) được nêu ra vào những năm 1880, có nghĩa là “điều thúc đẩy một người hành động“. Động lực cũng có thể được định nghĩa là “điều bên trong con người, thúc đẩy họ hành động để thỏa mãn mong đợi nào đó (Mullins 2007). Do bản chất của con người khác nhau nên mỗi người có những động lực khác nhau. Chính vì tầm quan trọng của quá trình động viên, nhà quản trị cần phải hiểu điều gì thúc đẩy nhân viên của mình.
Động viên giúp tạo ra động lực, sự hăng hái, nhiệt tình, trách nhiệm từ đó làm tăng hiệu quả công việc của nhân viên, giúp tổ chức đạt được những mục tiêu mong muốn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Một vài học thuyết về động lực đã được đưa ra nhằm nhận diện những động cơ thúc đẩy con người làm việc. CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC Động viên là chủ đề được nghiên cứu rộng rãi từ những năm đầu thế kỷ 20 cho đến nay. Mặc dù đã có nhiều học thuyết được phát triển nhưng các yếu tố động viên nhân viên vẫn là một chủ đề còn nhiều tranh luận.
Các lý thuyết động viên có thể được chia thành 2 nhóm: nhóm các lý thuyết dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu (content theories) và nhóm các lý thuyết dựa trên quá trình (process theories). Các lý thuyết dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu Các lý thuyết này tập trung vào điều gì thúc đẩy con người. Họ cho rằng con người có những nhóm mục tiêu và nhu cầu giống nhau. Đại diện cho lý thuyết này là học thuyết của Maslow, Herzberg và Alderfer.
Thuyết Maslow Thuyết Maslow (1943) được gọi là lý thuyết về hệ thống cấp bậc nhu cầu của con người. Theo Maslow thì con người làm việc để thỏa mãn nhu cầu của chính họ. Các nhu cầu được chia thành 5 loại và được sắp xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao (gồm nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện). Theo quan điểm của Maslow, trình tự thỏa mãn nhu cầu đi từ thấp đến cao.
Khi nhu cầu đầu tiên (nhu cầu sinh lý) được thỏa mãn thì nó sẽ không còn tính chất động viên nữa mà lúc đó nhu cầu cao hơn sẽ xuất hiện. Theo đó nhu cầu cao hơn chỉ xuất hiện khi nhu cầu thấp hơn được thỏa mãn. Maslow đã chia năm loại nhu cầu trên thành 2 nhóm là: nhu cầu bậc thấp và nhu cầu bậc cao (Hình 2. Nhu cầu bậc thấp gồm những nhu cầu cơ bản như nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn và nhu cầu xã hội.
Nhu cầu bậc thấp có giới hạn và được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài. Một khi nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn thì con người sẽ được thúc đẩy bởi các nhu cầu cao hơn (gọi là nhu cầu bậc cao) gồm nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện. Nhu cầu bậc cao được thỏa mãn chủ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 yếu từ bên trong. Theo Maslow, nhu cầu tự thể hiện là nhu cầu cao nhất của con người.
Đây là mức mà không phải ai cũng có thể đạt được (Fincham và Rhodes 2005). Nhu cầu Nhu tự thể hiện cầu bậc cao Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu bậc Nhu cầu an toàn thấp Nhu cầu sinh lý Hình 2.1 Tháp nhu cầu của Maslow (Nguồn: Kirstein 2010) 2. Thuyết Herzberg Herzberg (1959) đã phát triển một lý thuyết động viên nổi tiếng có tên là thuyết hai nhân tố (Two-Factor Theory). Lý thuyết của ông không chỉ mô tả các nhu cầu của con người mà còn cho thấy làm cách nào để động viên nhân viên.
Herzberg chỉ ra rằng sự thỏa mãn và không thỏa mãn trong công việc không phải là hai yếu tố đối nghịch nhau. Herzberg chia lý thuyết của mình thành hai nhóm nhân tố: nhân tố động viên và các nhân tố duy trì. Cả 2 nhóm nhân tố này đều quan trọng. Các nhân tố động viên bao gồm tính thách thức của công việc, cơ hội thăng tiến, thành tựu, sự công nhận và ý nghĩa của trách nhiệm.
Các nhân tố duy trì gồm phương pháp giám sát, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 quan hệ đồng nghiệp, điều kiện làm việc, chính sách Công ty,. Các nhân tố động viên, nếu hiện diện, sẽ dẫn đến sự thỏa mãn. Các nhân tố duy trì, nếu không hiện diện, sẽ dẫn đến sự bất mãn. Hai nhóm nhân tố này không tồn tại theo kiểu đối lập nhau.
Quá trình động viên đòi hỏi phải áp dụng đồng thời cả hai nhóm yếu tố này mà không được coi nhẹ bất cứ nhóm nào.2 thể hiện tần suất của mỗi nhân tố trong nghiên cứu của Herzberg và hai nhóm nhân tố duy trì và động viên.2 Thuyết Herzberg – Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc (Nguồn: Herzberg, F.1 thể hiện nhóm các nhân tố động viên và duy trì của Herzberg. Theo đó các nhân tố động viên thuộc về điều kiện làm việc bên trong và các nhân tố duy trì thuộc về bên ngoài công việc. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Nhóm nhân tố động viên và duy trì của Herzberg (Nguồn: Phan Thị Minh Châu 2007) Các yếu tố động viên Các yếu tố duy trì - Sự thách thức của công việc - Giám sát - Các cơ hội thăng tiến - Hệ thống phân phối thu nhập - Ý nghĩa của các thành tựu - Quan hệ đồng nghiệp - Sự công nhận - Điều kiện làm việc - Ý nghĩa của trách nhiệm - Chính sách của Công ty - Địa vị Ảnh hưởng của yếu tố động viên Ảnh hưởng của yếu tố duy trì Khi đúng Khi sai Khi đúng Khi sai Thỏa mãn Không thỏa mãn Không có sự bất Bất mãn mãn Hưng phấn trong Không có sự bất Không tạo ra sự Ảnh hưởng tiêu quá trình làm việc mãn (vẫn giữ được hưng phấn hơn cực (chán nản, thờ mức bình thường) ơ,…) 2. Thuyết ERG Alderfer (1969) đã phân tích lại thuyết nhu cầu của Maslow về những hạn chế và tính thực tiễn của lý thuyết này.
Theo đó Alderfer chia năm nhóm nhu cầu của Maslow thành ba nhóm chính là nhóm nhu cầu tồn tại (Existence), nhóm nhu cầu quan hệ (Relatedness) và nhóm nhu cầu phát triển (Growth) được gọi là thuyết ERG. Nhóm nhu cầu tồn tại gồm hai nhu cầu cơ bản là nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn. Nhóm nhu cầu quan hệ gồm nhu cầu xã hội và một phần nhu cầu tự trọng. Nhóm nhu cầu phát triển gồm nhu cầu tự thể hiện và một phần nhu cầu tự trọng.
Thuyết ERG có một số điểm trái ngược với thuyết Maslow. Theo Alderfer, con người cùng một lúc theo đuổi nhiều nhu cầu chứ không phải một loại nhu cầu như Maslow đã đề cập và tại một thời điểm sẽ có một nhu cầu trội hơn các nhu cầu khác. Trình tự thỏa mãn nhu cầu cũng không nhất thiết phải đi từ thấp đến cao, hay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 nói cách khác nhu cầu bậc cao có thể xuất hiện trước khi các nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn. Các lý thuyết dựa trên quá trình Các lý thuyết này không tập trung vào điều gì thúc đẩy nhân viên mà tập trung vào động lực xuất hiện như thế nào.
Đại diện cho nhóm này là thuyết kỳ vọng (Expectancy Theory) của Vroom, thuyết thiết lập mục tiêu (Goal-setting Theory) của Locke Edwin và thuyết công bằng (Equity Theory) của Adam. Thuyết kỳ vọng Vroom đã đề xuất lý thuyết kỳ vọng vào năm 1964 và sau đó được nhiều nhà nghiên cứu bổ sung và phát triển. Theo Vroom, con người bị thúc đẩy để hành động nhằm đạt được mục tiêu nếu họ cho rằng mục tiêu đó có giá trị. Thuyết kỳ vọng cho rằng động lực làm việc của nhân viên phụ thuộc vào ba yếu tố: kỳ vọng (Expectancy), công cụ (Instrumentality) và hóa trị (Valence).
Theo lý thuyết này, động lực làm việc chỉ xuất hiện nếu nhân viên nhận thấy mối liên hệ giữa việc thực hiện tốt công việc với phần thưởng xứng đáng, phù hợp với mục tiêu của họ. Thuyết thiết lập mục tiêu Locke Edwin (1968) đã đề xuất thuyết thiết lập mục tiêu liên quan đến động lực làm việc của nhân viên. Theo Locke, mục tiêu tác động đến kết quả công việc thông qua việc tập trung, nỗ lực, gia tăng sự bền bỉ và phát triển chiến lược để đạt được mục tiêu đó. Việc thiết lập mục tiêu rõ ràng và có tính thách thức sẽ giúp hình thành động lực và giúp nhân viên nâng cao hiệu quả công việc của mình.
Tuy nhiên trong một số trường hợp phức tạp, thuyết thiết lập mục tiêu sẽ không có giá trị nếu mục tiêu của cá nhân không tương thích với mục tiêu của tổ chức. Thuyết công bằng Thuyết công bằng của Adam (1963) cho rằng động lực của người lao động bị tác động bởi sự cân bằng giữa đầu vào (sự nỗ lực, kinh nghiệm, trung thành, làm việc chăm chỉ, sự cam kết, kỹ năng, năng lực, sự thích ứng,…) và đầu ra (lương, thưởng, sự công nhận, danh tiếng, sự thăng tiến,…) (Hình 2. Adam cũng cho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 rằng con người không chỉ đánh giá sự cân bằng giữa đầu vào và đầu ra của họ mà còn so sánh chúng với những người khác.