Chương 1: Cơ sở lý luận về động lực làm việc của công chức cấp xã. 8 Chương 2: Thực trạng động lực làm việc của công chức cấp xã trên địa bàn huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao động lực làm việc cho công chức cấp xã trên địa bàn huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.
Một số vấn đề về công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức cấp xã Công chức Việt Nam xuất hiện trong toàn bộ hệ thống hành chính. Hệ thống hành chính nước ta là hệ thống hành chính với bốn cấp, bao gồm: cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Trong đó, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã còn gọi là chính quyền địa phương.
Theo quy định tại Điều 4 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015: “Chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã. Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn” [29, tr. Cấp xã hay còn gọi là cấp cơ sở, là cấp hành chính thấp nhất trong cơ cấu thứ bậc hành chính nhà nước ở địa phương.
Chính quyền cấp xã gồm có HĐND cấp xã và UBND cấp xã được tổ chức phù hợp với đặc điểm dân cư, xã hội của từng vùng. HĐND xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra. UBND ở cấp xã do HĐND cùng cấp bầu ra là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. 10 Những người làm việc trong UBND cấp xã được gọi là CCCX.
Luật Cán bộ, công chức (2008) quy định: CCCX là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [28, tr. CCCX là những người được tuyển dụng, đảm nhận các chức danh chuyên môn sau: Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng – thống kê; Địa chính – xây dựng – đô thị - môi trường (đối với phường, thị trấn); Địa chính – xây dựng – nông nghiệp – môi trường (đối với xã); Tài chính – kế toán; Tư pháp – hộ tịch; Văn hóa – xã hội [8, tr. Đặc điểm của công chức cấp xã CCCX hầu hết là người bản địa, cư trú, sinh sống tại địa phương. Phần lớn họ đều có mối quan hệ dòng tộc và gắn bó mật thiết với cộng đồng dân cư tại địa phương đó trên nhiều mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, tình cảm.
Trong đời sống hàng ngày, đối với CCCX, quan hệ họ hàng, làng bản có khi còn sâu nặng hơn quan hệ đồng chí, đồng nghiệp. Trong bản thân mỗi CCCX các yếu tố: người dân, người cùng họ cùng làng và người đại diện nhà nước vừa thống nhất vừa mâu thuẫn, xung đột nhau, chi phối các hoạt động của họ, nhất là trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa các lợi ích cá nhân - cộng đồng - nhà nước. CCCX là người trực tiếp, gần dân và sát với dân nhất. Họ vừa là người tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước trong các cộng đồng dân cư; lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, để từ đó có những cách thức thực hiện công việc phù hợp và đảm bảo cho lợi ích chính đáng của người dân; nhưng đồng thời họ cũng là người chịu sự giám sát trực tiếp của nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
11 Trong một thời gian dài, từ năm 1969 đến năm 2003 CCCX hưởng chế độ sinh hoạt phí [5]. Từ năm 2003 đến nay, sau khi có Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 20/11/2003 của Chính phủ về chế độ chính sách đối với xã, phường, thị trấn, CCCX đã được hưởng chế độ tiền lương thay cho chế độ sinh hoạt phí [7] và thu nhập từ tiền lương của CCCX ngày càng được cải thiện hơn. Yêu cầu đối với công chức cấp xã CCCX cần phải có sự hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; CCCX phải có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao; có sự am hiểu về phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác. Đối với công chức là Chỉ huy trưởng Quân sự và Trưởng Công an xã, ngoài những yêu cầu trên còn phải có khả năng phối hợp với các đơn vị quân đội nhân dân, công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn, tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội để bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước.
Ngoài những yêu cầu đối với công chức nói chung, tiêu chuẩn cụ thể đối với CCCX còn tùy theo từng chức danh do Bộ trưởng Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng các bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định. Đối với công chức tại các xã miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì tiêu chuẩn về 12 trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có thể thấp hơn một cấp trình độ so với yêu cầu chung đối với CCCX [9]. Động lực làm việc của công chức cấp xã 1. Khái niệm động lực làm việc Trong giai đoạn hiện nay, nguồn nhân lực của tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng, là nhân tố quyết định đến sự thành bại của tổ chức.
Vấn đề ĐLLV là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự. Tuy nhiên, từ mỗi góc độ khác nhau sẽ có những quan niệm khác nhau về ĐLLV. Từ góc độ hành vi tổ chức, ĐLLV được hiểu là “sự tự nguyện nỗ lực ở mức độ cao nhằm hướng tới những mục tiêu của tổ chức, được tạo điều kiện bởi khả năng của những nỗ lực đó để thỏa mãn một số nhu cầu cá nhân” [38, tr. Từ góc độ quản lý nguồn nhân lực, “ĐLLV chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức” [33, tr.
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về ĐLLV, nhưng có thể thấy, điểm chung của các quan điểm trên là ĐLLV không xuất phát từ sự đe dọa hay ép buộc của tổ chức mà là sự tự nguyện của bản thân, xuất phát từ tư tưởng, suy nghĩ của bản thân. Động lực sản sinh ra năng lượng cho con người làm việc, duy trì làm việc và đóng góp tích cực cho môi trường làm việc của mình, ĐLLV giúp con người chuyển từ trạng thái chán nản trở nên tích cực hơn trong công việc. Luận văn chọn khái niệm ĐLLV từ góc độ quản lý nguồn nhân lực làm cơ sở để nghiên cứu thực trạng động lực của CCCX đó là “ĐLLV chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức”. Tổ chức cần 13 phải tìm ra những yếu tố nhằm nâng cao ĐLLV cho công chức, trên cơ sở đó để khuyến khích họ thực hiện công việc tốt nhất, giúp tổ chức duy trì và đạt mục tiêu dài hạn.
ĐLLV trong hoạt động công vụ của công chức có thể được nhận thấy qua các biểu hiện sau: Thứ nhất, ĐLLV của đội ngũ công chức trong hoạt động công vụ thể hiện trước hết ở nhận thức cá nhân về tính chất và yêu cầu của công việc. Thứ hai, ĐLLV của công chức trong hoạt động công vụ thể hiện ở thái độ làm việc. Công chức có thái độ làm việc tích cực vì mục tiêu chung, phải là người có sự say mê, hứng thú với công việc, sẵn sàng chấp nhận mọi khó khăn, thử thách và cố gắng vượt qua mọi khó khăn đó để hoàn thành tốt công việc. Thứ ba, ĐLLV thể hiện rõ nét nhất trong hành động, hành vi của đội ngũ công chức.
Thứ tư, ĐLLV còn biểu hiện ở kết quả làm việc của công chức. Vai trò của động lực làm việc ĐLLV có vai trò quan trọng không chỉ đối với công chức, đối với tổ chức, mà còn đối với cả xã hội. Vai trò của động lực làm việc đối với công chức ĐLLV có vai trò quan trọng trong việc quyết định hành vi của công chức. Người lao động có ĐLLV thì họ sẽ say mê với công việc của mình, do đó, họ sẽ làm việc nhiệt tình hăng say hơn và có thể phát huy hết khả năng tiềm ẩn, nâng cao những khả năng hiện có của bản thân, nhờ đó mà những mục tiêu của tổ chức sẽ được thực hiện với hiệu quả cao.
ĐLLV không chỉ giúp công chức kết hợp với nhau tốt hơn trong công việc mà còn tăng cường sự gắn bó về mặt tinh thần trong một tập thể, cùng chung sức hỗ trợ vì mục tiêu chung. Nếu không có ĐLLV, người lao động sẽ làm việc theo hình thức 14 đối phó, ảnh hưởng đến không khí làm việc chung của tổ chức và mọi người xung quanh, hiệu quả công việc chắc chắn sẽ bị giảm sút. Vai trò của động lực làm việc đối với tổ chức Trong một tổ chức, nguồn nhân lực là bộ phận quan trọng không thể thiếu. ĐLLV của người lao động đóng vai trò quyết định sức mạnh của tổ chức, là cơ sở đem lại sự sáng tạo trong tổ chức.