Đặt vấn đề Khoai tây (Solanum tuberosum L.) thuộc họ Cà (Solanaceae) là cây nông nghiệp ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng cao ở củ, có nguồn gốc từ miền nam Peru từ khoảng 7000 đến 10000 năm trước, bắt đầu du nhập vào châu Âu từ cuối thế kỷ 16 sau đó đã trở thành loại thực phẩm quan trọng nhất trong thế kỷ 19. Là một loại cây lương thực quan trọng xếp thứ 4 về mặt sản lượng tươi sau lúa, lúa mì và ngô vì vậy cây khoai tây có nhiều ưu điểm, mang nhiều đặc tính dễ thích nghi với các điều kiện khí hậu đất đai trên thế giới. Khoai tây được đánh giá cao về mặt giá trị dinh dưỡng như nhiều tinh bột, protein, chất chống oxy hoá và vitamin. Cây khoai tây có ba loại ưu điểm chính so với các loại thực phẩm khác đối với người tiêu dùng đó là: tỷ lệ hư hỏng thấp hơn, khối lượng lớn (dễ làm thỏa mãn cơn đói) và giá thành rẻ.
Khoai tây được du nhập vào Việt Nam từ năm 1890, nhờ các đề tài nghiên cứu và chính sách của nhà nước hiện nay năng suất khoai tây tăng đáng kể, trở thành một trong những loại cây trồng quan trọng. Tổng diện tích trồng khoai tây ở Việt Nam hiện nay khoảng 24 nghìn ha (Bộ NN&PTNT, 2018), tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích trồng đang có xu hướng giảm dần. Theo nhận định của các chuyên gia nông nghiệp, là do sản xuất khoai tây ở Việt Nam hiện thiếu bộ giống phù hợp, thiếu nguồn giống chất lượng cao, sạch bệnh, nhất là hệ thống sản xuất giống chưa phù hợp. Tại nước ta, cây khoai tây được sản xuất chủ yếu tại vụ Đông ở Đồng bằng sông Hồng, vụ Đông Xuân miền núi phía Bắc và khu vực Lâm Đồng.
Cây khoai tây là một cây trồng tương lai, mang đến giá trị cao về kinh tế cũng như mang đến công ăn việc làm cho người nông dân, tạo thu nhập lớn nếu khai thác hiệu quả và có chính sách phù hợp. Mặc dù là một cây trồng tiềm năng nhưng những nghiên cứu về khoai tây ở Việt Nam còn hạn chế, vấn đề chính là ở bộ 1 giống thiếu tính đa dạng và năng suất còn nhiều biến động với điều kiện thời tiết. Tình hình sản xuất giống ở Việt Nam còn kém, hàng năm chúng ta phải nhập một lượng lớn giống khoai tây từ Trung Quốc hoặc một số nước châu Âu về để làm giống. Tuy nhiên, số giống nhập giá thành quá cao so với thu nhập của nông dân.
Tại Quảng Ninh, cụ thể là Bình Dương, Đông Triều một trong những địa phương sản xuất lương thực trọng điểm của tỉnh Quảng Ninh với hơn 10 năm trồng khoai tây việc cung ứng giống sản xuất chất lượng là một trong những vấn đề nhức nhối. Quảng Ninh là một trong những địa phương có tiềm năng phát triển, cũng như bà con nơi đây có kinh nghiệm trong sản xuất khoai tây nên việc đẩy mạnh nghiên cứu giống là rất cấp thiết để tăng năng suất cây trồng, tăng diện tích sản xuất. Chính vì những vấn đề nêu trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tuyển chọn một số dòng khoai tây lai có triển vọng trồng tại Đông Triều, Quảng Ninh vụ Đông năm 2021”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục tiêu Đánh giá và đề xuất được các giống khoai tây có năng suất, chất lượng tốt phù hợp phục vụ cho sản xuất tại xã Bình Dương, huyê ̣n Đông Triều, Quảng Ninh. Yêu cầu - Mô tả các đặc điểm hình thái các dòng khoai tây. - Xác định khả năng sinh trưởng, phát triển năng suất của các dòng khoai tây. - Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh.
- Tìm ra dòng khoai tây có khả năng sinh trưởng mạnh. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học 2 Kết quả đề tài là cơ sở để tuyển chọn được giống khoai tây chất lượng, năng suất cao phù hợp với điều kiện thực tiễn tại địa phương, từ đó tạo nguồn giống mới cho các vụ sản xuất sau. Ý nghĩa thực tiễn Đưa được giống khoai tây mới, phù hợp vào sản xuất diện rộng, phục vụ cho ăn tươi và chế biến.
Làm đa dạng thêm nguồn giống khoai tây trên cả nước, tạo cho bà con giống mới chất lượng cao, giá thành rẻ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây khoai tây Khoai tây có nguồn gốc từ Peru, và nghiên cứu do David Spooner công bố năm 2005 đã chỉ ra rằng quê hương của cây khoai tây là một vùng ở miền nam Peru (phía bắc của Hồ Titicaca) (Spooner, 2005). Hàng nghìn giống khoai tây (phân loài) được tìm thấy trên dãy Andes, và hàng trăm giố ng khoai tây có thể được tìm thấy trong một thung lũng, mỗi hộ dân có thể tích trữ tới mười mấy loại khoai tây khác nhau (Spooner, 2005).
Người ta cho rằng khoai tây được du nhập vào châu Âu vào khoảng những năm 1570 (khoảng 80 năm sau chuyến đi đầu tiên của Columbus đến châu Mỹ vào năm 1492) và sau đó được các thủy thủ châu Âu áp dụng. Với sự mở rộng thuộc địa của châu Âu, những người đi biển đã đưa khoai tây tới các lãnh thổ và hải cảng khắp nơi trên thế giới trong thế kỷ XVII và XVIII. Sau khi được phổ biến ở châu Âu, khoai tây nhanh chóng trở thành một loại lương thực và cây trồng chủ yếu ở nhiều nơi khác trên thế giới. Do có ít giống khoai tây khác nhau được đưa vào ban đầu nên thiếu sự đa dạng về gen, khiến khoai tây ở châu Âu vào thời điểm đó dễ bị nhiễm bệnh.
Năm 1845, một loại bệnh nấm Phytophthora infestans (còn được gọi là bệnh héo fusarium) lan nhanh khắp miền tây Ireland, gây ra nạn đói lớn ở Ireland. Do vai trò sâu rộng của khoai tây đối với nền kinh tế nông nghiệp và lịch sử của các quốc gia này, khoai tây là một loài quan trọng vào thời điểm đó ở một số nước châu Âu như Idaho, Maine, North Dakota, Prince Edward Island, Ireland, Jersey và Nga. Nhưng trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20, việc mở rộng trồng khoai tây lớn nhất là ở châu Á, nơi trồng khoảng 8% khoai tây trên thế giới. Sau khi Liên Xô sụp đổ, Trung Quốc trở thành nước sản xuất khoai tây lớn nhất thế giới, tiếp theo là Ấn Độ.
4 Ở Việt Nam, khoai tây được các nhà truyền giáo người Pháp du nhập vào năm 1890. Tiếng Anh là Potato, đến Việt Nam được đặt tên là “Khoai tây”. Trước năm 1970, khoai tây được trồng rải rác ở Sapa – Lào Cai, Đồ Sơn – Hải Phòng, Trà Lĩnh – Cao Bằng, Đông Anh – Phúc Yên, Đà Lạt – Lâm Đồng. Diện tích tất cả khoảng 3 nghìn ha.
Thời gian này, khoai tây được coi là loại rau cao cấp. Giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng của khoai tây 2. Giá trị dinh dưỡng Hiện nay, khoai tây là nguồn lương thực quan trọng của con người, và khoai tây là cây lương thực đứng thứ 4 sau lúa mì, lúa và ngô. Sản lượng khoai tây hàng năm chiếm khoảng 50% tổng sản lượng củ (FAO, 1995).
Theo nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp Mỹ, trong khoai tây có chứa một lượng lớn các vitamin và khoáng chất thiết yếu, tốt cho cơ thể con người. Khoai tây chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng như protein, đường, lipid… Trong 100g khoai tây có: hydratcabon 19g (trong đó có 15g tinh bột, 2,2g chất xơ), 0,1g chất béo, 3g protein và 79g nước. Bên ca ̣nh đó, khoai tây còn chứa vi chất dinh dưỡng giá trị, đặc biệt là các vitamin (bao gồm vitamin B1: 0,08mg (8%), vitamin B2: 0,03mg (2%), vitamin B3: 1,1mg (7%), vitamin B6 (19%), vitamin C: 20mg (33%) cùng với những khoáng chất như canxi 12mg, sắt 1,8 mg, magiê 23 mg, photpho 57 mg, kali 421 mg, natri 6 mg. Khoai tây chủ yếu chứa carbohydrate.
Chủ yếu ở dạng tinh bột, carb chiếm 66-90% trọng lượng khô. Các monosaccharide như sucrose, glucose và fructose cũng chiếm một tỷ lệ nhỏ. Khoai tây thường có chỉ số đường huyết cao và không thích hợp cho những người mắc bệnh tiểu đường. Chỉ số đường huyết là chỉ số đo lường mức độ ảnh hưởng của thức ăn đến sự gia tăng mức đường huyết sau bữa ăn.
Tuy nhiên, một số loại khoai tây có thể có chỉ số trung bình, tùy thuộc vào giống và phương pháp chế biến. Để nguội khoai tây sau khi nấu 5 có thể giảm được ảnh hưởng đến lượng đường trong máu, và hạ thấp chỉ số đường huyết xuống 25-26%. Giá trị sử dụng Khoai tây là một loại cây phổ biến, được sử dụng vào nhiều mục đích: - Sử dụng làm lương thực: ở các nước châu Âu, khoai tây là thức ăn hàng ngày của người dân và nó được coi là “cây lúa mì thứ hai”. - Là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến như sản xuất khoai tây chip, làm bánh kẹo, chế biến rượu, cồn, làm cao su nhân tạo, nước hoa, sản xuất thức ăn chăn nuôi… Khoai tây còn là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến tinh bột, chế biế n bánh ke ̣o và đặc biệt là trong công nghiệp chế biến chất hữu cơ (lactic, xitric), dung môi hữu cơ (etanol, butanol).
Ước tính 1 tấn khoai tây củ có hàm lượng tinh bột 17,6% chất tươi sẽ cho 112 lít rượu, 35kg axit hữu cơ và một số sản phẩm phụ khác (FAO, 1991). Vì vậy, khoai tây là cây trồng có giá trị xuất khẩu và thương mại. Riêng năm 1994, giá trị của củ là 140. - Sử dụng cho chăn nuôi: khoai tây là nguồn thức ăn cho chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới, nhất là những nước có nến kinh tế phát triển như: Pháp sử dụng 3,06 triệu tấn/năm, Hà Lan 1,93 triệu tấn/năm cho chế biến thức ăn chăn nuôi.
- Khoai tây là một loại cây trồng giúp cải tạo đất trong luân canh: sau khi thu hoạch khoai tây sẽ để lại một lớp đất tơi xốp, khoai tây thường được chăm bón nhiều nên sau khi thu hoạch thường sót lại nhiều chất dinh dưỡng trong đất. Đặc điểm thực vật 2. Rễ Khoai tây là một loại củ rễ chùm. Khi trồng từ củ thì chỉ phát triển rễ chùm, khi trồng từ hạt thì cây có rễ chính và phát triển rễ nhánh tạo thành bộ rễ.
Khi các mắt củ bắt đầu nhú, trên rễ cũng xuất hiện những đốm nhỏ, đó là mầm 6 của rễ. Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây, các rễ liên tục xuất hiện, đó là dạng rễ chùm. Ra rễ tập trung sau khi trồng đến 20-30 ngày. Có thể ra rễ với tia củ, nhưng rễ ngắn và ít nhánh.
Rễ khoai tây tham gia hút nước và chất dinh dưỡng để nuôi dưỡng cây và củ.