Đặt vấn đề Khoai tây (Solanum tuberosum), thuộc họ Cà (Solanaceae). Solanum có nguồn gốc ở dãy núi Andes Nam Châu Mỹ, sau đó được du nhập đến Châu Âu vào thế kỷ 16 và hiện nay vô số các giống khác nhau đã được đưa vào trồng trọt. Hiện nay, khoai tây là một trong những cây lương thực, thực phẩm có giá trị, là cây trồng chủ đạo chỉ sau lúa nước, lúa mỳ và ngô. Cây khoai tây có những đặc tính quý như: Thời gian sinh trưởng ngắn, dễ thích ứng với nhiều vùng khí hậu, nhiều loại đất, cho hiệu quả kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao, có ý nghĩa trong việc đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói đối với các nước nghèo, các nước đang phát triển trên thế giới.
Ở Việt Nam khoai tây là cây trồng thích hợp cho vụ Đông ở đồng bằng sông Hồng, nó không đòi hỏi sự nghiêm ngặt về thời vụ như các loại cây khác. Thời gian sinh trưởng ngắn (85-90 ngày) năng suất cao. Với diện tích hiện nay tại Việt Nam khoảng 24 nghìn ha (Bộ NN&PTNT, 2018), cây khoai tây đang tạo ra việc làm cho hàng trăm nghìn lao động nông nghiệp trong vụ Đông, tận dụng đất nông nghiệp bỏ hoang và tăng thu nhập cho người nông dân. Vì vậy, việc xác định khoai tây là một trong những cây chủ yếu nằm trong cơ cấu giống cây trồng vụ Đông của một số tỉnh miền Bắc là hết sức cần thiết để cải thiện đời sống, tạo công ăn việc làm cho người dân.
Mặt khác, sản xuất khoai tây còn đem lại lợi ích lâu dài và đáng kể khác như: làm tăng năng suất cây trồng sau đó, tăng độ phì nhiêu và màu mỡ của đất, giảm chi phí làm đất và làm cỏ. Mặc dù các nghiên cứu về giống khoai tây trên thế giới rất phát triển nhưng ở Việt Nam còn hạn chế, bộ giống khoai tây thiếu tính đa dạng và năng suất còn nhiều biến động với điều kiện thời tiết hiện nay, đồng thời các biện pháp kỹ thuật đối với khoai tây thường trên một diện hẹp nhưng lại được áp 1 dụng cho nhiều vùng sinh thái khác nhau, do đó mà năng suất bình quân của khoai tây chưa ổn định và còn ở mức thấp. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu đưa khoai tây vào sản xuất nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân là hết sức cần thiết, ngoài ra cần lựa chọn được giống khoai tây và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp với từng vùng sinh thái để có hiệu quả cao nhất. Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:“Nghiên cứu tuyển chọn một số dòng khoai tây lai có triển vọng vụ đông 2021 tại Hà Nội”.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài Chọn lọc được giống khoai tây có sức sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất cao phục vụ cho ăn tươi và chế biến góp phần làm phong phú nguồn giống khoai tây. Yêu cầu của đề tài Mô tả đặc điểm hình thái của các dòng khoai tây lai. Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp khoai tây lai.
Đánh giá năng suất và chất lượng của các tổ hợp khoai tây lai. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Đánh giá được khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng của các dòng khoai tây lai. Kết quả của đề tài là cơ sở để đánh giá, tuyển chọn giống khoai tây mới có năng suất cao, phẩm chất tốt phục vụ cho ăn tươi và chế biến.
Từ đó là cơ sở để tuyển chọn giống cho những năm tiếp theo. Ý nghĩa thực tiễn Tuyển chọn được các dòng khoai tây có năng suất cao, phẩm chất tốt phục vụ cho ăn tươi và chế biến. Từng bước đưa các dòng được tuyển chọn vào sản xuất, bổ sung làm phong phú bộ giống khoai tây ở nước ta. 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây khoai tây Khoai tây (Solanum Tuberosum L.), thuộc họ Cà (Solanaceae), có nguồn gốc từ dãy núi Andes. Nơi khởi thủy của cây khoai tây trồng ở quanh hồ Titicca giáp ranh thuộc Peru và Bolivia. Những di tích khảo cổ tìm thấy ở vùng này tìm thấy ở vùng này thấy cây khoai tây làm thức ăn cho người đã có từ thời đại 500 năm trước công nguyên. Những hóa thạch củ khoai tây khô và những đồ vật hình dáng khoai tây có khá nhiều ở thế kỷ thứ II sau Công nguyên.
Hiện nay, ở dãy núi Andes còn có rất nhiều loài khoai tây hoang dại, bán hoang dại, loài khoai tây trồng. (Trương Văn Hộ, 2010) Khoai tây là cây nông nghiệp ngắn ngày, trồng để lấy củ, có chứa tinh bột. Khoai tây là loại cây trồng lấy củ rộng rãi nhất trên thế giới Hiện tại, người ta cho rằng khoai tây được du nhập vào châu Âu khoảng những năm 1570 và sau đó được người đi biển châu Âu đưa đến các lãnh thổ và cảng trên thế giới. Cuối thế kỷ XVI, khoai tây được mang về trồng ở Mỹ.
Đến thế kỷ XIX khoai tây trở thành một cây trồng quan trọng đối với châu Âu, là nguồn lương thực có giá trị dinh dưỡng cao. Do vậy, diện tích khoai tây ngày càng được phát triển lan rộng. Qua gần 100 năm khoai tây được trồng rộng rãi và phát triển rộng lớn ở châu Âu, khoai tây được du nhập sang các nước ở châu Á các châu lục khác: Ấn Độ (1610), Trung Quốc (1700). Tới các thập kỷ cuối của thế kỷ XX, châu Á là châu lục có diện tích trồng khoai tây lớn nhất.Trung Quốc là quốc gia sản xuất khoai tây lớn nhất thế giới (từ khi Liên Xô bị giải tán), tiếp sau đó là Ấn Độ Khoai tây được trồng phổ biến từ khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, đặc biệt các chủng loại giống có tiêu chuẩn công nghiệp (chips, đồ hộp và thức ăn liền).
Năm 1972, Trung tâm Khoai tây quốc tế (CIP) được thành lập tại Lima - Peru, nơi thu thập và lưu giữ sự đa dạng di truyền của khoai tây, lai tạo giống và hỗ trợ phát triển nghiên cứu giống và sản xuất khoai tây trên thế giới. 3 Ở Việt Nam, khoai tây được đưa vào năm 1890 do những nhà truyền giáo người Pháp đem đến. Tiếng Anh là Potato, đến Việt Nam được đặt tên là “Khoai tây”. Trước năm 1970, khoai tây được trồng rải rác ở Sapa – Lào Cai, Đồ Sơn – Hải Phòng, Trà Lĩnh – Cao Bằng, Đông Anh – Phúc Yên, Đà Lạt – Lâm Đồng.
Diện tích tất cả khoảng 3 nghìn ha. Thời gian này, khoai tây được coi là loại rau cao cấp. Những năm 1970, cuộc cách mạng xanh ở miền Bắc Việt Nam diễn ra rộng khắp, các nhà khoa học cùng các nhà quản lý đã nghiên cứu và phát triển lúa xuân ngắn ngày năng suất cao thay cho lúa chiêm dài ngày năng suất thấp, dẫn đến hiệu quả là gần 1 triệu ha đất xưa nay trồng 2 vụ lúa đã có thời gian từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 2 năm sau có thể trồng cây vụ đông. Hệ thống canh tác mới 3 vụ là: Lúa xuân – Lúa mùa – Cây vụ đông được xác lập.
Một trong số những cây vụ đông thì khoai tây được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhiều. Từ năm 1971 đến 1980 tổng diện tích khoai tây 100 nghìn ha. Thời gian này, Việt Nam có chiến tranh chống ngoại xâm, thiếu lương thực, khoai tây đã góp một phần quan trọng vào nguồn lương thực. Khi sản xuất lúa gạo và ngô dư thừa thì khoai tây là thực phẩm sạch trên thị trường và đã có thời gian xuất khẩu sang Liên bang Nga, năm 1986 là 5 nghìn tấn, năm 1987 là 1,5 nghìn tấn đồng thời xuất khẩu sang một số nước lân cận như Lào, Campuchia, Singapore (Trương Văn Hộ, 2010).
Giá trị dinh dưỡng và sử dụng của khoai tây Hiện nay khoai tây là một nguồn lương thực quan trọng của con người, khoai tây là cây lương thực thứ 4 sau lúa nước, lúa mỳ và ngô. Hàng năm sản lượng khoai tây chiếm khoảng 50% tổng sản lượng cây có củ (FAO, 1995) Trong củ khoai tây chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng như: protein, đường, lipit, các loại vitamin như caroten, B1, B2, B3, B6, PP và nhiều nhất là vitamin C (20-50 mg%). Ngoài ra còn có các khoáng chất quan trọng, chủ yếu là K, thứ đến là Ca, P và Mg. Sự có mặt của nhiều loại axit amin tự do đã làm tăng giá trị dinh dưỡng của khoai tây.
Trong 100g khoai tây luộc cung cấp ít nhất 5% 4 nhu cầu về protein, 3% năng lượng, 7-10% Fe, 10% vitamin B6, 50% nhu cầu vitamin C cho người/ngày (Tạ Thu Cúc, 2007) Sản phẩm khoai tây được sử dụng vào nhiều mục đích: Sử dụng làm lương thực: ở các nước châu Âu, khoai tây là thức ăn hàng ngày của người dân và nó được coi là “cây lúa mì thứ hai” Sử dụng cho chăn nuôi: khoai tây là nguồn thức ăn cho chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới, nhất là những nước có nến kinh tế phát triển như: Pháp sử dụng 3,06 triệu tấn /năm, Hà Lan 1,93 triệu tấn/năm cho chế biến thức ăn chăn nuôi. Hàng năm, lượng khoai tây sử dụng cho chăn nuôi chiếm khoảng 20-25% tổng sản lượng, điển hình là các nước Ba Lan (44%), Trung Quốc (34%). Ước tính 1 tấn khoai tây củ có hàm lượng tinh bột 17,6% chất tươi sẽ cho 112 lít rượu, 35kg axit hữu cơ và một số sản phẩm phụ khác (FAO, 1991). Do vậy, khoai tây là cây trồng có giá trị xuất khẩu và giá trị mậu dịch.
Chỉ tính đến năm 1994, giá trị khoai tây củ dao động từ 140-270 USD/tấn (FAO, 1995) Khoai tây là cây làm tốt đất trong hệ thống luân canh: Sau khi thu hoạch khoai tây để lại một lớp đất tơi xốp, tính chất vật lý của đất tốt. Khoai tây thường được chăm bón nhiều cho nên sau khi thu hoạch, hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất còn lại có thể cung cấp cho các loại cây trồng tiếp theo (Đường Hồng Dật, 2004). Đặc điểm thực vật học 2. Rễ Khoai tây thuộc loại rễ chùm.
Nếu trồng từ củ giống chỉ phát triển rễ chùm, nếu trồng bằng hạt cây có rễ chính và phát triển ra rễ nhánh hình thành bộ rễ. Khi mắt củ bắt đầu nảy mầm, phần gốc mầm cũng xuất hiện những chấm nhỏ chính là mầm mống của rễ. Rễ liên tục xuất hiện suốt cả quá trình sinh trưởng và 5 phát triển của cây, đây là dạng rễ chùm. Rễ xuất hiện tập trung sau trồng 20-30 ngày.
Ở các thân ngầm dưới mặt đất (tia củ) cũng có khả năng ra rễ nhưng rễ ngắn và ít phân nhánh.