phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn gồm 2 chương, 4 tiết. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Khái quát chung về tín đồ Phật giáo Việt Nam 1. Khái niệm Khái niệm tín đồ: Mỗi tôn giáo có quan niệm khác nhau về tín đồ, Luật tín ngưỡng, tôn giáo: “Tín đồ là người tin, theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận” [Quốc hội, 2016,].
Theo Đại từ điển tiếng Việt (1999): “Tín đồ là người theo một tôn giáo” [Nguyễn Như Ý, 1999), tr. Theo định nghĩa này tín đồ được hiểu theo nghĩa rộng, không có sự phân biệt giữa tín đồ chính thức với những người có cảm tính, hoặc có xu hướng tâm linh về một tôn giáo mà chưa phải là tín đồ chính thức. Còn theo Từ điển tôn giáo (2002): “Tín đồ là những ai tin ở những gì một tôn giáo dạy bảo và qua một thủ tục nhập đạo” [Mai Thanh Hải, 2002, tr. Định nghĩa này coi tín đồ là người có niềm tin vào tôn giáo và đã qua thủ tục gia nhập tôn giáo đó.
Liên quan đến khái niệm tín đồ còn có các thuật ngữ: + Nhà tu hành là tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tôn giáo. + Chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức. + Chức việc là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức [Quốc hội, 2016]. Như vậy, một tín đồ của một tôn giáo như định nghĩa, thứ nhất phải là người có đời sống tôn giáo, tức là có niềm tin tôn giáo và thực hành tôn giáo 9 trong đời sống của mình, bao gồm cả nhà tu hành và người sống đời bình thường; thứ hai những người đó phải được tổ chức tôn giáo thừa nhận.
Tín đồ Phật giáo: Trong đạo Phật, quan niệm thế nào là một tín đồ là một điều chưa thống nhất. Theo Hòa thượng Thích Trí Thủ, tín đồ Phật giáo là những người đã quy y Tam Bảo và tu tại gia theo giới luật của đạo Phật [Xem https://phatgiao. Như vậy, đến nay, cách hiểu về tín đồ Phật giáo nói riêng, tín đồ tôn giáo nói chung còn chưa thực sự thống nhất. Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn khái niệm tín đồ theo quy định của Luật tín ngưỡng, tôn giáo: “Tín đồ là người tin, theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận”.
Với cách hiểu đó, tín đồ Phật giáo Việt Nam là những người tin, theo Phật giáo và được Giáo hội Phật giáo Việt Nam công nhận. Phật giáo quan niệm tín đồ bao gồm có hai giới đệ tử của Phật là tại gia và xuất gia. Xuất gia chỉ cho giới tu hành, còn tại gia chỉ cho những người thiện nam, tín nữ, cư sĩ, thí chủ hộ trì đạo Phật. Giới xuất gia thì dễ dàng nhận biết qua sắc phục, và đời sống tu hành ở các cơ sở tôn giáo.
Còn giới tại gia để được gọi là tín đồ, đệ tử của Đức Phật thì khó xác định hơn. Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chương X, Điều 60: “Tín đồ cư sĩ Phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam là những người tin tưởng Phật pháp, thực hành theo giáo lý Đức Phật và tùy khả năng, tự nguyện thọ trì giới luật Phật chế”. Theo Từ điển Phật học Huệ Quang (2005), “Ưu Bà Di dịch nghĩa thanh tín nữ, cận thiện nữ, cận sự nữ, cận túc nữ, tín nữ. Chỉ nữ chúng gần gũi Tam bảo, thụ Tam quy, giữ ngũ giới, thực hành thiện pháp, là 1 trong 2 chúng tại gia, 1 trong 4 chúng đệ tử Phật” [Thích Minh Cảnh, 2005, tr.
“Ưu Bà Tắc dịch nghĩa cận sự nam, cận thiện nam, tín sĩ, tín nam, thanh tín sĩ. Chỉ người cư sĩ nam tại gia gần gũi phụng thờ Tam bảo, thụ trì ngũ giới, là 1 trong 10 2 chúng tại gia, 1 trong 4 chúng đệ tử Phật, là người tại gia tín ngưỡng Phật pháp” [Thích Minh Cảnh, 2005, tr. Như vậy, có thể thấy, tín đồ Phật giáo Việt Nam gồm hai nhóm đối tượng: những người xuất gia, tu hành, được Giáo hội Phật giáo Việt Nam công nhận và những người cư sĩ tại gia thực hành theo giáo lý, giáo luật Phật giáo và được Giáo hội Phật giáo Việt Nam công nhận. Giáo lý, giáo luật đối với tín đồ Phật giáo Như đã phân tích ở trên, tín đồ Phật giáo gồm hai nhóm đối tượng: xuất gia và tại gia.
Dù là đối tượng nào cũng đều là những người thực hành theo giáo lý, giáo luật Phật giáo. Giáo lý Phật giáo: Giáo lý Phật giáo là một hệ thống các quan điểm thể hiện cách nhìn nhận của Phật giáo về các vấn đề thế giới quan và nhân sinh quan. Giáo lý Phật giáo được thể hiện trong hệ thống kinh sách phong phú và đa dạng “thiên kinh vạn điển”. Kinh tạng Phật giáo có năm bộ lớn: Trường bộ kinh, Trung bộ kinh, Tương ưng bộ kinh, Tăng bộ kinh, Tiểu bộ kinh.
Phật giáo Bắc truyền còn nhiều bộ kinh khác: Hoa Nghiêm, Diệu Pháp Liên Hoa, Kim Cang, Lăng Nghiêm,… Quan niệm của Phật giáo về thế giới cho rằng thế giới này là thế giới vạn “pháp”, “hằng hà sa số các pháp”, pháp là bản thể của thế giới, thế giới này không do một đấng sáng tạo, đấng thiêng liêng nào tạo ra mà bản thân thế giới tồn tại theo các quy luật riêng của nó. Thế giới này là sự chuyển động và biến đổi không ngừng “vô thường”, theo các quy luật: Sinh – Trụ - Dị - Diệt hay Thành – Trụ - Hoại – Không. Hình tướng các pháp luôn sinh diệt mất còn bản thể thế giới không thay đổi, như sóng thay đổi tùy thuộc vào gió, hết lớp này đến lớp khác nhưng bản thể của sóng là nước thì không thay đổi. Các sự vật, hiện tượng tồn tại và biến đổi đều bị chi phối bởi quy luật “nhân duyên”, do nhân duyên mà thành, cũng do nhân duyên mà hoại.
“Như vậy, các Tỳ- 11 kheo, sắc là vô thường, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường. Cái gì là vô thường thì cái đó là khổ. Cái gì khổ thì chúng chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì không phải là sở hữu của ta.
Thánh đệ tử quán sát như vậy, nhàm chán sắc, nhàm chán thọ, tưởng, hành, thức. Do nhàm chán nên không thích. Vì không thích nên giải thoát và có tri kiến về giải thoát, biết rằng: Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa. Phật giáo còn đưa ra thuyết sắc – không, sắc là chỉ sự vật hiện tượng ở trạng thái có hình tướng trong không gian mà con người nhận biết được, hay gọi là có, không là trạng thái sự vật không có hình tướng, con người không nhận biết được.
Trong cái sắc đã tồn tại cái không và trong cái không đã có hình dáng cái có. Như Kinh Bát Nhã nói rằng: “Sắc bất dị không, không bất dị sắc Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Về nhân sinh quan, Phật giáo cho rằng con người là một pháp đặc biệt của thế giới vạn pháp, con người là sự kết hợp của Ngũ uẩn. Con người có hai phần sinh lý và tâm lý.
Con người cũng tuân theo quy luật: sinh – trụ - dị - diệt, thành – trụ - hoại – không. Phật giáo giải thích sự tồn tại của con người và thế giới vạn vật qua thuyết nhân quả, nghiệp báo, luân hồi. Trong nhân sinh quan Phật giáo có thuyết căn bản là khổ và con đường thoát khổ. Đức Phật đưa ra thuyết Tứ Diệu đế: Khổ đế (chân lý nói lên sự khổ của con người, Phật giáo quy vào tám điều khổ); Tập đế (chân lý nói lên nguyên nhân sự khổ: thập kết sử, thập nhị nhân duyên và nguồn gốc là vô minh); Diệt đế (Con người có khả năng diệt khổ); Đạo đế (con đường tu tập phải theo để thoát khổ là diệt trừ nguyên nhân của sự khổ, qua tám con đường tu Bát chính đạo).
Trong đó tám con đường thoát khổ đức Phật chỉ ra cho người đệ tử thực hành: Chính ngữ, chính nghiệp, chính tinh tiến, chính mệnh, chính niệm, chính định, chính tri kiến, chính tư duy. 12 Đức Phật dạy rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính, tùy vào căn cơ mỗi chúng sinh, trải qua quá trình tu tập đều có thể giải thoát. Giải thoát trở thành mục tiêu, lý tưởng của Phật giáo. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa dạy rằng: “Pháp của các Đức Phật Thường dùng thuần một vị Khiến cho các thế gian Đều khắp đặng đầy đủ Lần lựa siêng tu hành Rồi đều đặng đạo quả” [Thích Trí Tịnh (dịch), 2018, tr.
Phật giáo đưa ra nhiều qua điểm, tư tưởng, quy chuẩn đạo đức để người tín đồ thực hành theo: từ bi, thập thiện, ngũ giới, lục hòa… Là tín đồ Phật giáo dù là đối tượng nào đều hướng đến sự thực hành theo lời Phật dạy, đưa giáo lý Phật giáo vào đời sống của cá nhân, đời sống gia đình và đời sống xã hội. Đối với giáo luật, với từng đối tượng, Phật giáo có những quy định khác nhau về giới luật. Giới pháp quy luật Phật giáo do đức Phật chế ra để người đệ tử Phật thực hành theo, ngăn ngừa và chặn đứng sai lầm, tà ác. Trong đó: Tín đồ xuất gia: hay còn gọi là tu sĩ Phật giáo, hiểu theo nghĩa nhà tu hành trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo là tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tôn giáo thì tín đồ xuất gia của Phật giáo là người từ bỏ nếp sống thế tục (xuất gia), sống theo nếp sống đạo đức và hành trì theo pháp môn đức Phật thuyết định và thực hành theo giới luật Phật giáo.
Hình bóng tu sĩ Phật giáo đầu tiên sau khi Đức Phật thành đạo là năm anh em Kiều Trần Như với bài học đầu tiên Đức Phật dạy về con đường Trung đạo và Bát chính đạo, được nói đến trong kinh Chuyển Pháp Luân: 13 “Tôi được nghe rằng: Một thời Thế Tôn Trú vở vườn Nai Gần Ba – la – nại Bấy giờ Thế Tôn Gọi năm tỳ - khưu Đến dạy thế này: Có hai thái cực Người tu nên tránh Một là khoái lạc Say đắm ngũ dục Hai là khổ hạnh Ép xác hạnh thân Hai con đường này Đưa đến hậu quả Hủy hoạt thân tâm.