CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TỊNH ĐỘ CƯ SĨ PHẬT HỘI VIỆT NAM 1. Sự ra đời của Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam 1. Khái quát về vùng đất Nam Bộ Địa lý, tự nhiên và cư dân Nam bộ là một trong 3 vùng lãnh thổ của Việt Nam (Nam bộ, Trung bộ, Bắc bộ) và có 2 tiểu vùng: Tiểu vùng Đông Nam bộ gồm 5 tỉnh, 1 thành phố: Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh. Tiểu vùng Tây Nam bộ gồm có 12 tỉnh và 1 thành phố: Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ.
Điều kiện tự nhiên Nam bộ có thể khái quát như sau: Về địa hình, Nam bộ là một vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng, có diện tích 6.000ha và độ phì nhiêu cao nhất trong các đồng bằng của Việt Nam. Toàn vùng có đến 4.000 kinh rạch, dài tổng cộng 5. Đồi núi trong vùng không nhiều, tập trung ở miền Đông. Ở miền Tây có hai dãy núi cao là dãy Thất Sơn (An Giang), dãy Hàm Ninh (Kiên Giang).
Hai hệ thống sông lớn nhất của Nam bộ là sông Đồng Nai và sông Cửu Long. Hệ thống sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành đồng bằng sông Cửu Long. Với lượng nước trung bình hằng năm vào khoảng 4.000 tỷ mét khối, vận chuyển khoảng 100 triệu tấn phù sa, sông Cửu Long đã tạo ra những vạt đất phù sa phì nhiêu, các giồng cát ven biển và đất phèn [29]. Tuy nhiên, đặc điểm tự nhiên này mặt khác lại tạo cho Nam bộ một hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt cộng thêm thiên nhiên chướng khí, hoang vu, nhiều hiện tượng tự nhiên không thể giải thích được.
Người dân ở 11 Luan van đây luôn luôn phải chống chọi với thiên nhiên, làm cho đời sống vô cùng cực khổ. Hơn nữa, dân cư thưa thớt, việc giao lưu, thông thương chủ yếu phải dựa vào phương tiện đường thủy, đã hạn chế rất nhiều. Người dân chủ yếu sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp và đánh bắt thủy hải sản… Tất cả tạo nên con người Nam bộ với tính cách thuần khiết, hồn nhiên, tương thân tương ái. Và khi gặp điều hay lẽ phải, gặp giáo lý từ bi, bác ái của bất cứ một tín ngưỡng, tôn giáo nào, họ cũng chấp nhận dễ dàng.
Đây là một trong những lý do giải thích vì sao Nam bộ có nhiều tôn giáo nội sinh. Đời sống tôn giáo đã trở thành chỗ dựa vững chắc về mặt tinh thần để giúp các tộc người cư trú trên vùng đất này có thêm sức mạnh đối diện với thiên nhiên hoang hóa và cuộc sống còn nhiều khó khăn, bất trắc. Tôn giáo, tín ngưỡng Từ khi nhà nước Phù Nam được thiết lập vào khoảng đầu Công nguyên cho đến nay, trong quá trình hình thành và phát triển, vùng đất Nam bộ nói chung, Tây Nam bộ nói riêng, luôn là vùng đất cư trú của nhiều dân tộc như Kinh, Hoa, Khmer, Chăm… Yếu tố này là nguyên nhân lý giải tại sao đời sống văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của các cư dân nơi đây rất đa dạng, phong phú. “Người Khmer Tây Nam Bộ theo Phật giáo Nam tông; người Việt theo Phật giáo Bắc tông, chủ yếu là phái Thiền và Nho giáo, đã được du nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam từ lâu đời; người Hoa đến khai phá vùng đất mới này, mang trong mình một tôn giáo mới, đó là đạo Minh sư, sau này đã phát triển thành Ngũ chi Minh đạo với những tục cầu cơ, cầu hồn; một bộ phận người Chăm hồi hương từ Campuchia về sinh sống tại Tây Nam bộ, mang theo tín ngưỡng của đạo Islam.
Năm 1858, thực dân Pháp chính thức xâm lược nước ta… Nam bộ đã chính thức tiếp xúc với nền văn hóa phương Tây, với những tập tục Thông linh học của phương Tây và đạo Công giáo là một tôn giáo đã du nhập và phát triển ở nước ta từ lâu đời và đầu thế kỷ XX, đạo 12 Luan van Tin Lành chính thức có mặt tại Việt Nam…” [68, tr. Trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa, những phong tục thờ, cúng, nghi lễ… của mỗi dân tộc giao thoa với nhau, khiến cho tôn giáo, tín ngưỡng vùng đất này đa sắc diện hơn. Nam bộ có nét đặc thù riêng về văn hóa, điều kiện tự nhiên; cư dân chủ yếu là nông dân, đời sống khó khăn, dân trí còn hạn chế. Cả con người, văn hóa, thiên nhiên cho đến tín ngưỡng, tôn giáo đều hòa đồng, khoan dung, dung hợp.
Đầu thế kỷ XX, nhiều tôn giáo nội sinh được hình thành ở Nam bộ, đặc biệt ở vùng Tây Nam bộ - nơi có ruộng đồng phì nhiêu, thiên nhiên sông nước hòa trộn cùng tín ngưỡng bản địa phong phú, đa dạng. Các tôn giáo này khá đa dạng, đều có đặc điểm chung là tính phóng khoáng và kết hợp giáo lý của nhiều tôn giáo lớn với đặc tính văn hóa của vùng đất Nam bộ. Các tôn giáo nội sinh Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tăng cường vơ vét, bóc lột người dân thậm tệ, đời sống nhân dân bị áp bức vô cùng khổ cực, nạn nghèo đói, thất học, bệnh tật luôn đeo bám họ. Tầng lớp phong kiến, cường hào ác bá hoành hành, chà đạp, ức hiếp những người dân.
Ở khu vực thành thị, tệ nạn xã hội, á phiện, sòng bạc, nhà thổ… ngày càng nhiều và vùng Tây Nam bộ cũng tương tự. Vì vậy cuộc sống người dân càng cơ cực, bế tắc, họ không tìm ra lối thoát. Bị khủng hoảng niềm tin, họ tìm đến tôn giáo để làm chỗ dựa tinh thần. Bối cảnh đó là điều kiện thuận lợi để các tôn giáo mới ra đời.
Nam bộ đã sản sinh ra nhiều tôn giáo bản địa, như: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa (hay còn gọi là Đạo Lành), Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam… Vào những năm 30 đầu thế kỷ XX, phong trào chấn hưng đạo Phật ở Việt Nam nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của nhiều giới Phật tử. Từ Sài Gòn, Gia Định, phong trào chấn hưng lan rộng tới các vùng nông thôn, vùng 13 Luan van đồng bằng sông Cửu Long. Một số tôn giáo được hình thành dưới hình thức mới, vừa hoạt động tôn giáo, vừa hoạt động giúp đỡ dân nghèo. Một số tôn giáo phát triển trên nền tảng giáo lý Phật giáo, nhưng được thu gọn, dễ hiểu để phù hợp với sinh hoạt và trình độ của tầng lớp nông dân Nam bộ lúc bấy giờ.
Điển hình của một trong những tôn giáo mới trong giai đoạn này là Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam. Người sáng lập Hình 1.1: Đức tông sư Minh Trí Nguồn: Trang web Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam Người sáng lập ra Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam là Đức tông sư Minh Trí. Tên tục của Đức tông sư là Nguyễn Văn Bồng. Ông là con trai út trong gia đình có 6 anh em.
Cha là ông Nguyễn Văn Bình, mẹ là bà Nguyễn Thị An. Lúc bấy giờ gia đình ông thuộc 14 Luan van hàng trí giả, chuyên về nghề nông. Khi ông 10 tuổi, cha mẹ lần lượt qua đời, từ đó ông là trẻ mồ côi và được người chị nuôi dưỡng. Ông học chữ Nho, hay được đi chùa.
Và do thuở nhỏ ông không ăn được thịt cá, cơ thể ốm yếu nên ông thường tìm hiểu, nghiên cứu các bài thuốc chữa bệnh. Với nền tảng sẵn có cộng với tư chất thông minh, ông đã mau chóng tinh thông nghề y dược cổ truyền Việt Nam và ngộ được giáo lý Phật giáo. Năm 19 tuổi (1905), nghe lời chị, ông lập gia thất. Nhưng ông vẫn luôn dành toàn tâm, toàn ý cho việc học hành, tìm hiểu chữ Nho và nghề thuốc Đông y.
Ông nổi tiếng khắp vùng. Năm 1911, ông 25 tuổi, thấy cuộc sống của người nông dân miền Nam lầm than, đói không có ăn, ốm không có thuốc, ông đã dùng ghe lườn chở khoai lang, chiếu… đến các tỉnh Tiền Giang, Hậu Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ, Long Xuyên, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Nai, Sài Gòn… bán cho dân làng dọc hai bờ sông. Ông đã đem đạo lý Phật giáo ra khuyên mọi người làm lành, lánh dữ; dùng thuốc Nam chữa bệnh không lấy tiền. Người dân Nam bộ rất cảm mến và ủng hộ ông.
Những việc làm của ông là tiền đề cho việc thành lập Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam sau này. Năm 1919, ông thu xếp việc gia đình, vợ con, quyết định chính thức theo cuộc đời tu sĩ, lấy pháp hiệu là Trung Trí. Ông đi khắp lục tỉnh Nam kỳ: Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ, Long Xuyên, An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Tiền Giang, Bến Tre, Tân An, Chợ Lớn, Đồng Nai, Bà Rịa… Từ thành thị đến nông thôn, từ vùng xa xôi, hẻo lánh đến nơi cư dân đông đúc, ông đi khắp nơi, dùng y đạo trị bệnh giúp người, vận động những người có điều kiện khá giả, uy tín cùng tham gia làm phước thiện với mình. Để phát triển tư tưởng Phật giáo, ông thu nhận những đệ tử có phẩm chất đạo đức, khả năng y thuật giỏi như ông bà Nhan Văn Đống, Đinh Văn Ninh, Nguyễn Văn Nghi, Cao Thiện Đạo, Dương Cẩm Tú, Quách Kim, Hà 15 Luan van Trị Trượng… Ông dạy mọi người thực hành hạnh Bồ tát, không tham tiền tài, địa vị, không lợi dụng nghề nghiệp để kiếm lợi cho mình.
Với lòng nhân ái và hạnh từ bi theo tinh thần Phật giáo, ông chỉ cho người đời thấy cuộc đời là giả tạm, là biến đổi vô thường, chỉ có tấm lòng và đạo đức là tồn tại mãi mãi. Từ năm 1920 trở đi, ông thường đem giáo lý Lục phương khuyên mọi người ăn chay giữ giới, lạy sáu hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, phương trên, phương dưới và trì niệm Phật A Di Đà để cầu thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, được về cõi Phật. Trong thời kỳ này, ông được sự trợ giúp của người cô tên là Hồ Thị Mỹ, pháp danh Diệu Thiện ở xã Tân Mỹ, tổng An Thạnh Thượng (nay là Đồng Tháp), sau này bà được tín đồ suy tôn là Đức Bà Cô Năm. Bà đã cùng ông mượn nghề bán khoai đi khắp chốn, tùy căn cơ phương tiện dạy mọi người hướng thiện, giúp trị bệnh cứu người, không phân biệt tôn giáo, đẳng cấp, sang hèn.
Khi tín đồ ngày một đông, nhiều người tìm đến ông nhưng không có nơi ăn nghỉ, Bà Cô Năm đã hiến cho ông một căn nhà làm nơi ăn nghỉ cho tín đồ.