mở đầu mà cũng vừa là một thành công đáng kể, một đấu ấn muôn đời của Nguyễn Trãi về thể thơ dân tộc. Văn chương Nguyễn Trãi có chiều rộng cuộc đời và chiéu sâu triét học - như hậu thế đã từng đánh giá, ngợi ca. Đọc Quân trung từ mệnh tập ta tưởng chừng như còn nghe vẳng lên lời nói 6n tôn, đẩy nhân nghĩa nhưng cũng rất đanh thép của nhà chính trị Ức Trai. Từng lời văn như còn làm sống dây cái khí thế hùng tráng của những dãy "chiến thuyén san sát liền chân mây” của nghĩa quân Lê Lợi; đồng thời cũng như hiện rõ lên cái tình thế khốn quẫn của tàn quân Vương Thông sống trong thành Đông Quan tro trọi, giữa lúc hàng chục van quân lính nông đân áo vải của ta “như rừng cây xúm xít, răng lược khít nhau” đã vây khắp bốn mặt trong ngoài.
Doc tập thơ chữ Han của Nguyễn Trãi ta lai bị cuốn hút vào cái màu sếc của môi. thiên nhiên vô vàn hùng tráng; ta lai say mê trước khí tượng của sông núi được nhắc đến trong thơ, và trên từng câu thơ trữ tình thấm thiết, ta bỗng lặng người đi trước bể sâu của một tâm hồn vi đại. Đọc Quốc âm thi tập, ta bất gặp một cuộc đời khác hẳn, một cuộc đời đạm bạc; và cảnh vật ở đây như dan trải ra mênh mông. Trong cảnh trời đất phóng khoáng ấy, nổi bật lên hình ảnh liên cốt của nhà thơ quấn quit lấy trang, gió và thông.
Hình anh tiên cốt ấy đã trở nên rất thân thương, gần gũi với mọi người, và thơ văn Nguyễn Trãi đã đi vào lòng người rất tự nhiên, đơn sơ, mộc mạc mà chan chứa tình thương, Mỗi lần đọc một bài thơ, một lời văn của Nguyễn Trai, người viết càng cảm thấy mến yêu hơn, kính phục hơn, hiểu thêm hon về con người tài hoa ấy. Với sự ngường md tuyệt đối, người viết đã chọn để tài “những đóng góp vé thơ Nôm của Nguyễn Trai” dé làm luận văn tốt nghiệp cho mình, với mong ước được làm mét việc là kế thừa ý kiến của những người đi trước, góp tiếng nói nhỏ bé của minh vào việc khẳng định những đóng góp lớn lao của Nguyễn Trãi trong sự phát triển thơ Nôm dân tộc.Tuy nhiên, với tam hiểu biết và giới hạn cho phép của một luận văn, người viết chỉ xin trình bày phần nghiên cứu của mình chủ yếu ở phần thơ Nôm của tác phẩm Quốc âm thi tập, xoay quanh chủ dé : thiên nhiên, con người, bài học giáo duc và một phần nghệ thuật nổi bật. Tho văn của ông, sau bao nhiêu sóng gió của bao thời đại, vẫn ngời lên tấm lòng cao cả. Sự đóng góp của nhà thơ là lớn lao vô cùng, mà người viết còn rất nhiều hạn chế về kiến thức, về khả năng nhưng cũng xin cố gắng hết sức mình để dat một vòng hoa tưởng niệm Lam lòng cao cả vA tài ba lỗi lac của nhà thơ Nguyễn Trãi đồng thời góp phần phục vụ cho việc soạn giảng ở trường phổ thông.
Trong quá trình làm luận van, người viết có so sánh với các tác phẩm thơ Nom sau Nguyễn Trãi, và so sánh với chính thơ chữ Han của ông để làm nổi bat lên nét đặc trưng của tha Nôm Nguyễn Trãi. Lick sử atin dé: Bằng ngòi bút sắc bén của minh, Nguyễn Trãi đã đạt đến đỉnh vinh quang chói ngời. Nhưng rồi lòng người thay đổi, miệng thế khôn lường. Trong khi nét mực bài “Binh Ngô Dai Cáo” còn tươi, thì thân Trân Nguyên Han đã chìm xuống nước, đấu Phạm Văn Xảo đã lia khỏi cổ, còn Nguyễn Trãi thì bị tống giam vào ngục.
và cái ngày đau xót không những cho Nguyễn Trãi mà còn cho cả đân tộc nữa là ngày mà Nguyễn Trãi và gia tộc da rơi đầu đưới lưỡi dao oan nghiệt của cái triéu đình hèn hạ và ngu muội mà chính ông đã chiến đấu gian khổ để góp phần dựng nên. Từ đó, thơ văn của ông cũng bị hủy hoại, lưu lạc. Để rồi 22 năm sau, nhìn thấy nỗi oan khuất của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông mới xuống chiếu tẩy oan cho ông và thơ văn của ông mới được phép tìm kiếm, lưu truyền. Nhưng đến khi Dương Ba Cung đi sưu tâm khắp nơi trong nhân dan và về cả gia Lộc họ Nguyễn thi mới tập trung lại được 254 bài trong tập Quốc âm ngày nay.
Nó là kết quả của cả một quá trình tìm kiểm khó khăn mà chỉ có lòng nhắn nại kiên tri và sự ngưỡng mộ (ai năng, nhân cách của nhà thơ - người anh hùng Nguyễn Trai mới có được. Quốc Am thi tập được các nhà nghiên cứu nổi tiếng phiên ra chữ Quốc ngữ như Vũ Văn Kinh, Dao Duy Anh, Trần Văn Giáp. Tuy nhiên, trong 254 bài Quốc âm thi Lập của Nguyễn Trãi thì có khoảng hơn 20 bài cũng có mặt trong Bach vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Binh Khiêm - sinh sau Nguyễn Trãi 111 năm. 20 bài trùng nhau ấy, phân lớn là những lời giáo huấn, day đạo đức, giảng luân lý.
và hiện nay, các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu và cổ gắng lý giải hiện tượng này (Tuy nhiên, theo tác giả Bùi Văn Nguyên thi có lẽ đây là sự nhấm lẫn của những người đời sau khi biên soạn, giới thiệu thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Binh Khiêm). Từ khi Quốc âm thi tập được ra mat độc giả, có nhiều ý kiến khá phong phú của các nhà nghiên cứu : Bùi Văn Nguyên trong “Văn chương Nguyễn Trãi” nhận định : “Van chương Nguyễn Trai là văn chương sáng ngời đao lý làm người. Van chương của mt. sao khué nửa đầu thể kỷ XV7 (2).
Nhận xét về thơ Nom Nguyễn Trãi có Xuân Diệu - “Các nhà thơ Gổ điển Việt Nam” với nhận xét : “Dứng trong thể loại thi tiếng Nom thì có ban lĩnh nhất là Hỗ Xuân Hương và Nguyễn Trãi" (3). “Ky niệm GOO năm sinh Nguyễn Trai” - Sách đã khẳng định sự đóng góp to lớn của Nguyễn Trãi trong dòng văn học chữ Nôm, là tac giả tiên phong đặt nền móng cho nên văn học tiếng dân tộc phat. triển sau này. aay, oes Trong sách “May vẻ mat thi ca Việt Nam” phát hiện : “Điều thường thay trong thơ ong là một nồi thao thức lớn, một cái nhìn chất chứa bao nhiêu đấu hỏi về cuộc đời” (4).
Sach “Kiến văn lục” liên hệ cả hai mật tài năng và nhân cách của Nguyễn Trãi : *. Viết thư thảo hich, tài giỏi hơn hết một. xem như khi giúp việc chính trị hai triéu, đem hết lòng trung mà khuyên vua điều phải, tuy bị chèn chế nhưng không từng chịu khuất”. Cùng suy nghĩ như các tác giả khác, Hà Như Chỉ trong “Việt Nam thi văn giảng luận” kết luận : “Đứng trước lịch sử, Nguyễn Trãi là một.
người con hiếu, một bể tôi trung và cũng là một con dân anh ding của nước Việt. Trong văn học, ông la một trong những tay thợ đầu tiên xây dung nén van Ném, một nhà nho chân chính, không những chỉ biết ding văn chương để ngắm vịnh, mà lại biết dem sở học ra giúp ích cho đời, that đáng cho ta kính phục”. (5) Trong sách “Học tap thơ văn Nguyễn 'Trãi” các tác giả đã nhận xét trên cơ sử tổng hợp nhiều ý kiến như trên. (6) Ngoài ra còn có những tạp chí văn học và các sách viết về thơ văn Nguyễn Trai, mỗi ý kiến là một cảm nhận riêng của cá nhân; nhưng déu có một điểm chung nhất là khẳng định sự đóng góp của Nguyễn Trãi vào việc phát triển thơ Nôm, đồng thời tìm ra những cái hay, cái đẹp, cái tinh hoa của thơ Nôm Nguyễn Trãi.
Luận văn này chủ yếu là kế thừa ý kiến của những người đi trước, làm công việc hệ thống hóa lại tất cả những công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn để mà đã được bao thế hệ người xem đón nhận, tôn trọng. hương piáp aghiéa cứu : Luận văn này sử dụng phương pháp : Thống kê, hệ thống hóa lại những công trình tiêu biểu có liên quan đến để tài. Kế thừa ý kiến của những người đi trước để tiếp tục khẳng định những đóng góp lớn lao của Nguyễn Trãi vào việc phát triển thơ Nôm dân Lộc và đồng thời góp phần phục vụ cho việc soan giảng ở phổ thông. Phân loại, phân tích để đi đến kết luận.
So sánh với các tác giả sau Nguyễn Trãi như ; Nguyễn Binh Khiêm, Hỗ Xuân Hương. Xết «ấu luận oda: I. Lý đo chọn để tài và giới hạn để tài 2. Lịch sử vấn để 3.
Phương pháp nghiên cứu 4. Kết cấu luận văn Il. Nội dung : ChươngI : Nguyễn Trãi và thời đại : I, Cuộc đời và thời đại Il. Sự nghiệp văn chương IIL.
Vài nét về thơ Nôm và Quốc 4m thi tập Chương II : Sự đóng góp của Nguyễn Trãi : L Thể hiện qua việc miêu tả thiên nhiên 1. Thiên nhiên cụ thể, gần gũi, thân thuộc 2. Thiên nhiên sinh động, là người bạn thân thiết của con người 3. Thiên nhiên trẻ trung, phóng khoáng, có hồn - thể hiện cái nhìn của người nghệ sỉ đa tình.
IL Thể hiện qua hình ảnh con người - Tác giả 1. Con người với lòng yêu nước, thương dân sâu sắc 2. Con người với hoài bão cao đẹp 3. Con người với một tâm hồn phong phú, một nhân cách cao đẹp ILL Bài học giáo dục Thể hiện quan niệm sống của tác giả IV.
Ngôn ngữ giản dị, dùng nhiều hình ảnh quen thuộc 2. Sử dụng thể thơ bảy chữ xen sáu chữ (hàn luật pha lục ngôn) 3. Tiếp thu Ảnh hưởng Hán học, Việt hóa Hán ngữ và khẳng định ngôn ngữ dân tộc 4. Hạn chế Chương kết.
HƯƠNG |: NGUYEN TRAI VA THỜI DAI CRO ED I/. CUỘC ĐỜI VA THỜI ĐẠI : 1/. Quge đời : Nguyễn Trãi - hiệu là Ức Trai. Sinh năm 1380 ở Thăng Long, tại gia đình mẹ ông là dính quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán.
Té tiên Nguyễn Trãi vốn quê ở xã Chi Ngai, huyện Chi Linh, tỉnh Hải Hưng. Sau đời về làng Ngọc Gi, tức là Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây). Thân phụ Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long, là người có tài, học cao, hiểu rộng và mẹ của Nguyễn Trãi là bà Trần Thị Thái, con quan Tư Đô Trấn Nguyên Đán (mà lúc đó quyển ngang Tể Tướng tại triểu). Năm 1374 đời Trần Duệ Tông, Nguyễn Ứng Long đỗ Thái học sinh.
Tuy là đỗ cao, nhưng theo lệ nhà Trân, Nguyễn Ung Long là con nhà bình dan mà lại lấy con gái hoàng tộc nên không được làm quan. Ông phải vé quê làng Nhị Khê mở trường dạy học. Lúc này, Nguyễn Trãi vẫn ở đỉnh quan Tư Đồ với mẹ.