Chương 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nhân sinh quan 1. Nhân sinh quan từ góc nhìn Triết học Triết học là khoa học nghiên cứu về các quy luật chung của sự tồn tại lẫn tư duy của con người và thế giới.
Thực tiễn chứng minh rằng, diện mạo các tư tưởng triết học thường được nảy sinh từ chính nỗ lực giải quyết các vấn đề cấp bách của xã hội đương thời. Phần lớn các tư tưởng và ý thức hệ là sự phản ánh hiện thực thông qua các lăng kính khác nhau. Trong tiến trình thời gian, con người luôn là trung tâm điểm của lịch sử của mọi khoa học. Karl Heinrich Marx từng nói: “Con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội”.
Như vậy, nhân sinh quan của triết học xoay quanh việc giải quyết các vấn đề về con người, nhằm tìm con đường đưa con người đạt đến chân - thiện - mĩ hoặc giảm bớt những gánh nặng khổ đau của con người trong quá trình phát triển. Vấn đề nhân sinh trong triết học là vấn đề ý thức của con người về mình, đem mọi chuyện cuộc đời ra ánh sáng dưới lý trí chứ không phải để đem lại ích lợi vật chất, đó là phần triết lý toàn diện về đời người. Chính vì vậy, tư tưởng này chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc đời con người. Mặc dù nó là ý thức của con người, song triết lý của mỗi người mỗi khác do kinh nghiệm sống, hay do suy nghĩ và do ý thức khác nhau.
Để có thể đạt được triết lý chung như các dòng triết học chính của toàn nhân loại - người ta phải dựa trên kinh nghiệm phổ biến và dùng cái lý phổ biến, những kết quả của mọi khoa học khác đương đại. “Nhân sinh quan của Triết học là phần trung tâm của các tư tưởng Triết học, gồm những quan niệm về cuộc sống của con người: lẽ sống của con người là gì? mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng?” [27, tr 443]. Khác với loài cầm thú, bất kì người nào cũng có quan niệm của mình về cuộc sống. Trong đời thường, đó là nhân sinh quan tự phát, “ngây thơ”của đại chúng; Với các nhà tư tưởng, đó là sự khái quát những quan điểm ấy, nâng lên thành 16 lí luận, tạo ra nhân sinh quan tự giác, mang tính nguyên lí triết học.
Nhân sinh quan phản ánh sự tồn tại của xã hội của con người. Nội dung của nó biểu hiện những nhu cầu, lợi ích, khát vọng và hoài bão của con người trong mỗi chế độ xã hội cụ thể. Theo các nhà triết học: Trong xã hội có giai cấp, nhân sinh quan có tính giai cấp. Giai cấp đang đi lên trong lịch sử có nhân sinh quan lạc quan, tích cực, cách mạng; nhân sinh quan của giai cấp đang đi xuống thường mang tính bi quan, yếm thế.
Nhân sinh quan có tác dụng lớn đến hoạt động; những quan niệm trở thành niềm tin, lối sống, tạo ra phương hướng, mục tiêu cho hoạt động (lí tưởng sống) [27, tr 444]. Nếu phản ánh đúng khuynh hướng khách quan của lịch sử thì nó là nhân tố mạnh mẽ để cải tạo xã hội một cách hợp lí; nếu phản ánh không đúng thì nó có tác dụng ngược lại, cản trở xã hội tiến lên. Vì vậy, sứ mệnh của mỗi người là thúc đẩy những quá trình phát triển xã hội đã chín muồi, những hoạt động lao động sáng tạo và cải tạo xã hội, đem lại một xã hội tốt đẹp tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người, đồng thời qua đó mà hoàn thiện những năng lực trí tuệ, tình cảm của bản thân mình. Trong thời đại của mình, Nguyễn Trãi có thể xem là một nhà Triết học có tầm nhìn vượt thời đại, đã nỗ lực cách tân thời đại ấy với tư tưởng vì dân.
Sứ mệnh đáng trọng ấy được Nguyễn Trãi minh chứng bằng suốt quãng đời hành đạo. Nhân sinh quan từ góc nhìn của Tôn giáo Trong phạm vi nghiên cứu về nhân sinh quan của Nguyễn Trãi, chúng tôi chỉ đề cập đến những hệ tư tưởng ảnh hưởng rõ nét đến quan niệm của con người trung đại nói chung và bản thân Nguyễn Trãi nói riêng. Trong các hệ tư tưởng triết học, Tam giáo đồng nguyên hay Nho - Phật - Đạo là những hệ tư tưởng chi phối đậm nét nhân sinh quan của người Phương Đông và bản thân Ức Trai. Về điểm này, chúng tôi tâm đắc và đồng thuận với quan điểm của nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn: 17 "Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo là những hệ tư tưởng có lịch sử phát triển lâu đời ở Phương Đông, có ảnh hưởng lớn ở Trung Quốc, Ấn Độ và nhiều quốc gia Châu Á khác, trong đó có Việt Nam.
Các tôn giáo này vừa tồn tại độc lập, vừa xuyên thấm vào nhau vừa có sự thích ứng, hòa quyện với tư tưởng bản địa hết sức phong phú và đa dạng. Ở Việt Nam, ảnh hưởng của tam giáo hết sức mạnh mẽ trong mọi mặt đời sống xã hội, sâu sắc trong tiềm thức và ý thức, trong quá khứ và hiện tại của tâm hồn người Việt". Trước hết là nhân sinh quan trong Nho giáo. Với tư cách là một học thuyết tư tưởng - chính trị - đạo đức, ảnh hưởng của Nho giáo ở Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản mạnh mẽ hơn bất cứ một tôn giáo nào.
Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu (1027 đến 771 TCN), với sự đóng góp của Chu Công Đán. Người kế thừa và phát triển Nho giáo chính là Khổng Tử với tư cách là người sáng lập. Tồn tại hàng ngàn năm lịch sử, không thể phủ nhận Nho giáo có lí do để xác lập chỗ đứng cho mình vì nó đáp ứng được những yêu cầu khách quan, căn bản của xã hội, của con người trong thời đại lịch sử đó. Những nhân sinh quan của Nho giáo chưa từng được trình bày trong các kinh điển thành chương mục mà nằm rải rác hoặc đan xen nội dung khác.
Tuy nhiên, có thể khái quát về nhân sinh quan của Nho giáo như sau: Thứ nhất, nhân sinh quan Nho giáo đề cao các mối quan hệ của con người: tam cương, ngũ thường và tam tòng, tứ đức (trong đó, “tam cương”đề cao mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ; “ngũ thường”đề cao năm điều phải có của con người: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín; “tam tòng”, “tứ đức” là những điều, những phẩm tính dành riêng cho người phụ nữ). Thứ hai, Nho giáo đề cao tư tưởng nhân nghĩa, coi đây là chuẩn tắc cơ bản của luân lí xã hội phong kiến, là gốc của đạo làm người, hạt nhân của tư tưởng này là lòng yêu thương con người - đây là một quan niệm tiến bộ và đúng đắn của Nho giáo. Khổng Tử quán triệt phương châm sống: “Thật chuyên tâm làm điều nhân thì không phạm điều tà ác” [24, tr 4]. Trong Luận ngữ, chương Mạnh Tử, Mạnh Tử 18 cũng giải thích: “Bản tính con người là thiện, cũng như nước luôn chảy về chỗ thấp.
Người ta không có ai bất thiện cả… con người có thể bị thúc ép làm điều bất thiện, đó là do bản tính thiện bị cải biến đi, như nước bị ép chảy ngược vậy” [13, tr 731]. Thứ ba, Nho giáo đề cao thuyết quân tử - tiểu nhân để phân biệt hai hạng người tốt - xấu trong xã hội, trong đó, quân tử là người có đức hạnh, có tài học, biết làm việc, có phẩm tính cao đẹp “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”; ngược lại, tiểu nhân là kẻ thất phu hèn kém cả về phẩm chất lần địa vị. Tư tưởng này về mặt hạn chế có tính chất một chiều, tính chất đẳng cấp nghiêng về đề cao quân tử: “Người quân tử có khi làm điều bất nhân, nhưng chưa hề có đứa tiểu nhân nào mà có nhân” (Khổng Tử - Luận ngữ) [24, tr 14]. Thứ tư, Nho giáo quan niệm người dân vừa là mục đích, vừa là phương tiện.
Trước đó, có lần “Quý Khang hỏi Khổng Tử về chính sự, rằng : Nếu giết quân vô đạo, để mọi người đi tới hữu đạo thì có nên không? Khổng Tử đáp: Ngài cai trị dân, cần gì dùng tới sự chém giết? Ngài muốn thiện thì dân sẽ thiện…” [13, tr 427]. Do vậy, Nho giáo đề cao tư tưởng thân dân, đề cao việc “yên dân, trừ bạo”, đồng thời coi tư tưởng này cũng là cách thức để duy trì ngôi vị thống trị. Cũng theo tác giả Lã Nhâm Thìn: “Chữ “dân”mà Khổng Tử, Mạnh Tử nói đến không bao gồm người lao động nghèo khổ mà là tầng lớp địa chủ hoặc địa chủ kiêm công thương…” [24, tr 24]. Thứ năm, Nho giáo đề cao quan điểm thẩm mĩ mang tính “sùng cổ”: coi trọng thời hoàng kim là thời đã qua (thời vua Nghiêu, Thuấn, chế độ nhà Chu), cái Đẹp là khuôn mẫu của tiền nhân, trong văn thơ, Nho giáo đề cao “thuật nhi bất tác” (làm theo mà không sáng tạo).
Những tư tưởng trên của Nho giáo đã ảnh hưởng nhiều mặt trong văn học trung đại Việt Nam. Nho giáo góp phần hình thành một nền văn học mang chức năng “văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí” - đề cao chức năng giáo huấn của văn học: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm - Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” (Nguyễn Đình Chiểu), Nho giáo cũng phân biệt văn chương cao cả và thấp hèn. Theo đó, những sáng tác văn chương đời thường, 19 thông tục bị coi là hạ đẳng, thấp hèn: Truyền kì mạn lục - Nguyễn Dữ là sự ghi chép tản mạn những chuyện kì lạ trong dân gian, Truyện Kiều - Nguyễn Du là “lời quê chắp nhặt rông dài”. Ngược lại, các tác phẩm văn học chữ Hán, thơ Đường được coi là văn chương bác học.
Qua đó, nhân sinh quan trong Nho giáo phản ánh nguyện vọng của những con người trong giai đoạn lịch sử đó, nó được thể hiện tập trung trong các quan niệm: về sinh mệnh, sự sống, về lẽ sống của con người, tính tương liên giữa ý thức về cá nhân, gia đình và ý thức cộng đồng; chấp nhận và tìm cách đáp ứng khát vọng hạnh phúc của con người. Tôn giáo thứ hai có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến nhân sinh quan của con người và văn học trung đại Việt Nam chính là Phật giáo. Đạo Phật là tôn giáo phát sinh từ Ấn Độ khoảng từ 1. Người sáng lập Phật giáo là Thích ca Mâu ni (563 - 480 TCN), một “trí giả thầm lặng của dòng Thích ca”.
Phật giáo cũng là một học thuyết tư tưởng - chính trị - đạo đức, trong đó, nhân sinh quan là một nội dung trọng tâm của đạo Phật.