mở đầu nền thơ cổ điển Việt Nam” của Xuân Diệu; “Quốc âm thi tập” của Phạm Thế Ngũ; “Tình yêu thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi” của Mai Trân; “Một vài nét về con người Nguyễn Trãi qua thơ Nôm” của Hoài Thanh; “Con người cá nhân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi” của Trần Đình Sử; “Về con người cá nhân trong thơ Nguyễn Trãi” của Nguyễn Hữu Sơn; “Nhà tư tưởng và nhà nghệ sĩ trong ‘Quốc âm thi tập’” của Trần Ngọc Vương; “Vài nét về tư tưởng của Nguyễn Trãi qua thơ văn ông” của Trần Thanh Mại; “Quốc âm thi tập” của Thanh Lãng. Một số nhận định đáng chú ý là như của Bùi Văn Nguyên: “. Có hiểu như thế thì mới không khắt khe với cái triết lý “ở ẩn” thường được nhắc đến trong thơ như một lẽ sống của Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi nói ẩn cư và ông đã từng làm như thế.354]; của Đức Mậu: “.
lui cũng là để ‘tiêu sái 11 lòng ngoài thế’ và để chẳng mừng, chẳng lo trước chút công danh vô nghĩa. Nguyễn Trãi trong Côn Sơn ca là một con người phóng tún, tự do.479-480]; của Nguyễn Thiên Thụ: “. lòng Nguyễn Trãi thường hướng đén cảnh thanh nhàn. Sau khi về hưu trí, Nguyễn Trãi cũng giữ thái độ của một nho sĩ an vui với cảnh nghèo theo quan niệm của Nho giáo ‘an bần lạc đạo’.
Nguyễn Trãi đã trở về sống với thiên nhiên như những người nông dân đơn sơ giản dị ở chốn núi rừng. Thiên nhiên bao vây quanh Nguyễn Trãi. Thiên nhiên thấm vào trong từng hơi thở, thiên nhiên quấn quýt dưới bàn chân thi nhân: ‘Quét trúc bước qua làn suối/ Thưởng mai về đạp bóng trăng’ (Ngôn chí, số 15). Thái độ của Nguyễn Trãi ở đây là thái độ tự nhiên của một ẩn sĩ đã chán chường cuộc sống ồn ào, mệt mỏi của trường danh lợi đua tranh.487, 491, 498-499]; của Hoàng Phủ Ngọc Tường: “.
Với Nguyễn Trãi, sự hướng vọng về Côn Sơn không hề là nỗi say mê thú ẩn dật theo cách sống đạo sĩ, mà mang ý nghĩa của một thôi thúc nội tâm rất mãnh liệt. Nguyễn Trãi mô tả Côn Sơn như là một căn nhà thoáng gió làm bằng vật liệu và kịch thước của thiên nhiên, ông trở về Côn Sơn với nỗi hân hoan đầy tự do của một con người trở về nhà mình; và không nghi ngờ gĩ nữa, nỗi nhớ Côn Sơn đã đeo đẳng ông suốt đời người chính là nỗi hoài niệm về căn nhà vũ trụ trong cuộc sống tâm linh của Nguyễn Trãi. Người ta thường nói về Côn Sơn của Nguyễn Trãi như một chốn ẩn dật và chính Nguyễn Trãi cũng nói một cách giản dị như thế. Nguyễn Trãi chưa bao giờ là nhà ẩn sĩ theo đúng nghĩa Lão – Trang của từ ngữ.
Từ những phân tích như trên, Hoàng Phủ Ngọc Tường tiếp tục nhận xét: “. Nguyễn Trãi không tìm về Côn Sơn với một giấc mơ hái thuốc trường sinh, hoặc một giấc mơ Từ Thức nào khác. Mặc dù có nhiều chỗ trong thơ ông ca ngợi thú ẩn dật, khiến nhiều người không hiểu hết tâm sự của ông, nhưng đấy chính là lúc ông biểu lộ nỗi lo âu sâu xa nhất về việc nước, việc đời. Một bản chất tích cực như Nguyễn Trãi không cho phép ông chọn sự tiêu dao làm lẽ sống ở đời.
Côn 12 Sơn đối với Nguyễn Trãi, cũng như làng Nhị Khê, là một mảnh đất nhau rốn làm người, chỉ khác hơn là ở đây, mảnh nhau rốn ất được cắm vào một viễn cảnh vũ trụ.510-511]; của nhà thơ Xuân Diệu: “. nếu đắc dụng phùng thời thì xuất, ra làm quan thi thố tài năng kinh bang tế thế, lúc “Đến trường đào mận ngặt, chăng thông”, nếu bị ruồng bỏ hoặc phải bọn gian nịnh bao vây, thì phải liệu mà xử, rút lui mà đi ở ẩn. Chúng ta phải hiểu phần lớn thơ Quốc âm thi tập là do tình thế Nguyễn Trãi phải lánh mình xa chốn triều đinh.605]; của Phạm Thế Ngũ: “. Ông lui về Côn Sơn, nơi nước tú, non kỳ, nơi mà chính ngoại tổ ông là Trần Nguyên Đán xưa đã một lần lui về làm nhà ở ẩn.
Từ đây ông sống cuộc đời tầm thường giản dị ở nông thôn.643]; của Nguyễn Thiên Thụ: “. Vì Nguyễn Trãi là một thi nhân, một ẩn sĩ cho nên nỗi buồn của Nguyễn Trãi là nỗi buồn của con người già cỗi, đã tàn tạ đứng trước cảnh vật hữu tình. 678]; của Hoài Thanh: “. Nguyễn Trãi ca ngợi cuộc sống ẩn dật không biết bao nhiêu lần.
Thơ Nguyễn Trãi cũng bao nhiêu lần nói đến chữ nhàn, thế mà ta chỉ cần đọc một vài câu trong biểu tạ ơn khi được nhà vua vời trở ra làm việc là liền thấy những lời thơ nhàn kia chỉ là lời tự mình an ủi mình trong cảnh thanh nhàn bất đắc dĩ.704, 710]; của Nguyễn Hữu Sơn: “. Chung quy, con người cá nhân hiện diện trong thơ văn Nguyễn Trãi thuộc một mẫu hình riêng, vừa có nghĩa bao quát, điển hình vừa bao gồm nhiều kiểu người khác nữa. Ông có cả quan phương, có nhập thế lẫn ly tâm, hướng về tự do tuyệt đối. Trong ông có cả Nho, cả Phật, cả Đạo, cả hư vô viễn vọng và đời thường trần tục, cả uyên bác và bình dân, cả thiên nhiên và tình yêu, cả thương cảm đắm say lẫn giận hờn trách cứ.735-736]; của Trần Ngọc Vương: “.
Nguyễn Trãi phát ngôn rất điển hình cho một tư tưởng phổ biến của các nho gia về lẽ xuất xử ‘Dụng chị tắc hành xả chi tắc tàng’, ‘Tiến vi quan đạt vi sư’, gặp thời thì làm người trung nghĩa ‘kiêm thiện thiên hạ’ bằng không thì “An bần lạc đạo độc thiện kỳ thân’. Một khi đã lui chân làm ẩn sĩ, mặc dù vẫn 13 còn nói rằng “Tôi Đường Ngu ở đất Đường Ngu”, nhưng tư tưởng “Tạc tỉnh nhi ẩm, canh điền nhi thực, đế lực hà hữu ư ngã’ (Đào giếng mà uống, cày ruộng mà ăn, uy lực vua có gì ở ta) vang lên như một lẽ thường tìn. Khi trong tâm tưởng còn thấm nhuần đạo nghĩa, cảnh vật trở nên có tôn ty trật tự, có phân biệt đối xử. Những người bạn muôn thủa ở trong thơ các nhà nho ẩn dật cũng được Nguyễn Trãi gọi về họp mặt đầy đủ trong thơ ông: mai, tùng, cúc, trúc, thông, sen, lan, quỳ, lựu, chè, vượn, hạc, rùa, trăng, gió, mây, núi, sương, tuyết, sông, hồ, con thuyền nhỏ, chiếc cần câu, cái cuốc, cái cầy đã thanh thoát hóa, am quạnh, lều con, hương trầm.
cùng với một số ‘thi cụ’ như rượu, như đàn, như án sách, như con cờ. Nhưng Nguyễn Trãi chỉ thực sự thành công trong việc ca tụng cảnh thanh nhàn, lối sống ẩn dật và miêu tả thiên nhiên khi ông nguôi được ‘tấc lòng ưu ái cũ’, lúc đó hình tượng dầu cũ cũng được thổi vào một luồng sinh khí mới. Giáo sư Lã Nhâm Thìn trong bài viết “Ảnh hưởng Đạo gia trong thơ Nguyễn Trãi” dường như mặc nhiên thừa nhận tư cách ẩn sĩ của Nguyễn Trãi và có những phân tích thực chứng về ảnh hưởng Đạo gia trong thơ của Nguyễn Trãi từ cảm hứng sáng tác đến nghệ thuật biểu hiện. Giáo sư Lã Nhâm Thìn chỉ rõ: “.
Cái tích cực nhất trong tư tưởng Đạo gia mà Nguyễn Trãi tiếp thu được là sống hòa hợp với tự nhiên. Đạo gia góp phần làm nên một Ức Trai thhi sĩ. Côn Sơn không chỉ là tiếng gọi của quê hương mà còn là tiếng vọng của vũ trụ thôi thúc ông trở về để di dưỡng tinh thần, hòa nhập với tự nhiên. Nguyễn Trãi về với thiên nhiên như về với ngôi nhà lớn của mình.
Đạo gia đã cởi bỏ cái ‘nhân vi’ của Nho gia để Ức Trai về với Côn Sơn như cánh chim sổ lồng vui say giữa rừng núi quê nhà. Trong chuyên khảo Tác giả nhà nho ẩn dật và văn học trung đại Việt Nam [44], nhà nghiên cứu Lê Văn Tấn đã có những khái quát khá đầy đủ diện mạo của loại hình tác giả nhà nho ẩn dật, từ việc lựa chọn con đường trở thành ẩn sĩ, việc tiếp thu các hệ tư tưởng chính trị, triết học đến điều kiện lịch 14 sử xã hội và tư tưởng văn hóa Việt Nam. Từ đó, PGS Lê Văn Tấn cũng đã có những phác thảo bước đầu về một số hình tượng nghệ thuật chủ đạo trong sáng tác của các nhà nho ẩn dật, vấn đề lựa chọn ngôn ngữ thơ ẩn dật. Trong cuốn sách tác giả Lê Văn Tấn có nhiều trang viết đề cập trực tiếp đến việc lựa chọn việc ở ẩn của Nguyễn Trãi, những thú vui tinh thần và vật chất của Nguyễn Trãi khi ở ẩn tại Côn Sơn.
Đặc biệt gần đây, qua một số bài viết riêng về thơ Nguyễn Trãi, tác giả Lê Văn Tấn đã gọi rõ nhà nho Nguyễn Trãi là ẩn sĩ, nhà nho ẩn dật thực thụ, điển hình. Các bài viết tiêu biểu như “Ức Trai thi tập và tư cách ẩn sĩ của Nguyễn Trãi”, “Nguyễn Trãi với Quốc âm thi tập: Các hình thức diễn đạt về sự ẩn dật”. Một số nhận định của tác giả Lê Văn Tấn sẽ là những gợi ý quý báu cho chúng tôi trong việc lựa chọn và thực hiện đề tài luận văn: “. Nguyễn Trãi là mẫu hình một nhà nho hành đạo trung nghĩa điển hình.
Nhưng ở vào những tình huống khác nhau của cuộc đời, ông lại mang tư cách của một ẩn sĩ thực thụ. Nét riêng độc đáo nhất trong tư cách ẩn sĩ Nguyễn Trãi so với các nhà nho ẩn dật khác ở đây chính là tư tưởng ‘độc thiện kỳ thân’, giữ mình trong sáng trước thế cuộc, bụi trần. Quốc âm thi tập là tập thơ chữ Nôm giàu giá trị trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Trong tập thơ, Nguyễn Trãi đã thể hiện thành công các hình thức diễn đạt ẩn của mình.
Ngoài ra, hầu hết trong các giáo trình văn học trung đại, các sách tham khảo và chuyên khảo có liên quan về tác giả Nguyễn Trãi như công trình của các nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc, Nguyễn Huệ Chi, Đặng Thanh Lê, Trần Thị Băng Thanh, Lã Nhâm Thìn, Vũ Thanh, Trần Nho Thìn, Nguyễn Phạm Hùng, Lại Văn Hùng, La Kim Liên, Phạm Thị Phương Thái, Lê Văn Tấn. cũng đều có những phần viết bàn đến Nguyễn Trãi trên tư cách của nhà nho ẩn dật, dù mức độ đậm nhạt, sự khẳng định và nhận định về ông ở các nhà nghiên cứu là có khác nhau. 15 Như vậy, thông qua việc điểm các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, về cơ bản, các nhà nghiên cứu đều khẳng định tư cách nhà nho hành đạo điển hình vì dân vì nước của nhà nho Nguyễn Trãi.