Khảo Sát Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao Trong Thơ Nôm Của Nguyễn Trãi Và Hồ Xuân Hương

Khảo sát thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương, khám phá giá trị văn hóa và nghệ thuật độc đáo.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học dân gian

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

133
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Khám Phá Thành Ngữ Tục Ngữ Ca Dao Trong Thơ Nôm

Bài viết này tập trung khảo sát thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm của hai tác giả lớn: Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương. Việc nghiên cứu này nhằm làm sáng tỏ cách thức hai nhà thơ sử dụng và biến đổi các yếu tố văn hóa dân gian này trong tác phẩm của mình, từ đó hiểu sâu hơn về phong cách thơ Nôm độc đáo của mỗi người. Nghiên cứu này không chỉ giới hạn ở việc thống kê số lượng mà còn đi sâu vào phân tích ý nghĩa biểu đạt và hình thức nghệ thuật của chúng. Việc so sánh thành ngữ tục ngữ ca dao Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương cũng sẽ giúp nhận diện những điểm tương đồng và khác biệt trong tư duy và cảm xúc của hai tác giả, đồng thời làm nổi bật giá trị văn hóa và nghệ thuật của thơ Nôm trung đại Việt Nam.

1.1. Ý nghĩa của việc sử dụng CLDG trong thơ Nôm

Việc sử dụng chất liệu dân gian (CLDG) như thành ngữ, tục ngữ, ca dao không chỉ làm cho thơ Nôm trở nên gần gũi, dễ hiểu với đại chúng mà còn thể hiện sự gắn bó sâu sắc của các nhà thơ với văn hóa Việt Nam. CLDG mang giá trị biểu cảm cao, giúp các tác giả diễn tả một cách sinh động và chân thực những suy tư, cảm xúc của mình về cuộc sống, con người và xã hội. Việc này còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của văn học dân gian Việt Nam.

1.2. Giới thiệu về hai tác giả Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương

Nguyễn Trãi, một nhà chính trị, quân sự, ngoại giao, nhà văn hóa lớn của dân tộc, được biết đến với tập thơ Quốc âm thi tập. Hồ Xuân Hương, được mệnh danh là "bà chúa thơ Nôm", nổi tiếng với những bài thơ trào phúng, thể hiện tiếng nói mạnh mẽ về thân phận người phụ nữ. Cả hai đều là những đỉnh cao của thơ Nôm, nhưng mỗi người lại có một phong cách riêng biệt, thể hiện qua cách sử dụng ngôn ngữ dân gian.

II. Thơ Nôm Nguyễn Trãi Cách Vận Dụng Thành Ngữ Tục Ngữ Ca Dao

Thơ Nôm Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập thể hiện rõ sự ảnh hưởng của văn học dân gian. Nguyễn Trãi sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao một cách nhuần nhuyễn để diễn tả những suy tư về thế sự, nhân sinh, cũng như tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước. Việc sử dụng ngôn ngữ dân gian giúp thơ Nôm của ông trở nên gần gũi, dễ hiểu với người đọc, đồng thời thể hiện tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc. Các yếu tố này không chỉ đơn thuần là sự lặp lại mà còn được Nguyễn Trãi biến đổi, sáng tạo để phù hợp với nội dung và phong cách thơ của mình. Theo luận văn gốc, Nguyễn Trãi qua thơ Nôm gửi gắm những quan niệm về đạo đức, những bài học về luân thường đạo lý, những lời giáo huấn sâu sắc cho cháu con.

2.1. Khảo sát số lượng và tần suất sử dụng CLDG trong thơ Nguyễn Trãi

Theo nghiên cứu, một lượng đáng kể các bài thơ trong Quốc âm thi tập có sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao. Tỷ lệ các bài thơ sử dụng CLDG cho thấy Nguyễn Trãi coi trọng việc đưa ngôn ngữ dân gian vào thơ Nôm. Thống kê chi tiết về số lượng và tần suất xuất hiện của từng loại CLDG (thành ngữ, tục ngữ, ca dao) sẽ giúp đánh giá mức độ ảnh hưởng của văn học dân gian đến sáng tác của ông. (Dẫn chứng số liệu từ biểu đồ 1.1 và 1.2 trong tài liệu gốc nếu có).

2.2. Phân tích ý nghĩa biểu đạt của thành ngữ tục ngữ ca dao trong thơ Nguyễn Trãi

Thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi thường được sử dụng để diễn tả: Lòng yêu nước, thương dân; Sự chiêm nghiệm về cuộc đời, thế sự; Tình yêu thiên nhiên, quê hương; Lời răn dạy về đạo đức, lối sống. Phân tích cụ thể các ví dụ sẽ cho thấy cách Nguyễn Trãi vận dụng ngôn ngữ dân gian để truyền tải những thông điệp sâu sắc về tư tưởng Nguyễn Trãi và nhân sinh quan của mình. Ví dụ, những câu thơ mang đậm tính tự răn và khuyên nhủ mọi người.

2.3. Hình thức biểu đạt và phương thức sử dụng CLDG của Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm theo nhiều hình thức khác nhau: Trích dẫn trực tiếp; Biến đổi, sáng tạo lại; Sử dụng ẩn dụ, so sánh. Phân tích các phương thức này sẽ cho thấy sự sáng tạo và tài năng của Nguyễn Trãi trong việc vận dụng văn học dân gian để làm phong phú thêm phong cách thơ Nôm của mình. Cách sử dụng đa dạng này làm nổi bật lên ngôn ngữ dân gian trong thơ Nôm của ông.

III. Thơ Nôm Hồ Xuân Hương Khai Thác Chất Liệu Dân Gian Như Thế Nào

Thơ Nôm Hồ Xuân Hương nổi tiếng với sự phóng khoáng, trào phúng và tiếng nói bênh vực phụ nữ. Hồ Xuân Hương cũng sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao một cách tài tình để thể hiện những điều này. Tuy nhiên, cách sử dụng ngôn ngữ dân gian của bà có những nét riêng biệt so với Nguyễn Trãi, phản ánh phong cách thơ Nôm Hồ Xuân Hương độc đáo của mình. Theo tài liệu gốc, thơ Nôm của bà tuân thủ nghiêm chỉnh thể các h Đƣờng Luật nhƣng lại phá tan hình thức “nghiêm trang” ấy bằng cách triệt để khai thác các biện pháp tu từ của tiếng Việt.

3.1. Thống kê và so sánh số lượng CLDG trong thơ Hồ Xuân Hương

Việc thống kê số lượng và tần suất sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hương sẽ giúp so sánh với Nguyễn Trãi và xác định xem liệu bà có sử dụng CLDG nhiều hơn hay ít hơn. Phân tích này cũng sẽ giúp đánh giá vai trò của văn học dân gian trong phong cách thơ của bà. (Dẫn chứng số liệu từ biểu đồ 2.1 và 2.2 trong tài liệu gốc nếu có).

3.2. Phân tích ý nghĩa biểu đạt Bênh vực phụ nữ châm biếm xã hội

Thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hương thường được sử dụng để: Bênh vực những người phụ nữ có số phận hẩm hiu; Châm biếm, đả kích những kẻ đạo đức giả; Phê phán xã hội phong kiến bất công. Phân tích các ví dụ cụ thể sẽ cho thấy cách Hồ Xuân Hương sử dụng ngôn ngữ dân gian để thể hiện những quan điểm tư tưởng Hồ Xuân Hương tiến bộ của mình.

3.3. Hình thức biểu đạt và sự sáng tạo trong cách dùng CLDG

Hồ Xuân Hương sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao một cách sáng tạo, thường kết hợp với lối chơi chữ độc đáo và ngôn ngữ đời thường để tạo ra hiệu ứng trào phúng, hài hước. Phân tích các ví dụ sẽ cho thấy sự tài hoa của bà trong việc vận dụng văn học dân gian để tạo ra những bài thơ độc đáo, mang đậm quan điểm nghệ thuật Hồ Xuân Hương cá nhân.

IV. So Sánh Giống và Khác Trong Sử Dụng CLDG của Nguyễn Trãi HXH

Việc so sánh thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương sẽ làm nổi bật những điểm tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng ngôn ngữ dân gian của hai nhà thơ. Sự so sánh thành ngữ tục ngữ ca dao Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương này sẽ giúp hiểu rõ hơn về phong cách thơtư tưởng của mỗi người, cũng như vai trò của văn học dân gian trong sự phát triển của thơ Nôm Việt Nam.

4.1. Điểm tương đồng Cùng trải nghiệm đắng cay sử dụng CLDG

Cả Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương đều có những trải nghiệm đắng cay trong cuộc đời, điều này ảnh hưởng đến tư tưởngphong cách thơ của họ. Cả hai đều sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao để diễn tả những suy tư về cuộc đời, con người và xã hội. Tuy nhiên, cách họ sử dụng ngôn ngữ dân gian có những nét riêng biệt, phản ánh cá tính và quan điểm nghệ thuật của mỗi người.

4.2. Điểm khác biệt Hệ thống chủ đề mật độ sử dụng CLDG

Nguyễn Trãi thường sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao để thể hiện lòng yêu nước, thương dân và những suy tư về thế sự, nhân sinh. Hồ Xuân Hương lại sử dụng ngôn ngữ dân gian để bênh vực phụ nữ, châm biếm xã hội và phê phán những bất công. Mật độ sử dụng CLDG cũng có thể khác nhau, phản ánh sự khác biệt trong phong cách thơ của mỗi người. Sự khác biệt này được giải thích bằng thời đại, gia đình và thân phận riêng, khác biệt.

4.3. Giải thích nguyên nhân sự khác biệt Thời đại và phong cách

Sự khác biệt trong cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao của Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương có thể được giải thích bằng: Bối cảnh lịch sử, xã hội khác nhau; Phong cách thơ cá nhân; Quan điểm nghệ thuật khác nhau. Thời đạiphong cách là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sáng tạo của các nhà thơ.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Giá Trị Của Nghiên Cứu Thơ Nôm Hiện Nay

Nghiên cứu về việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương có giá trị lớn trong việc: Giúp hiểu sâu hơn về văn học dân gian Việt Nam; Nâng cao nhận thức về giá trị của thơ Nôm; Góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa Việt Nam. Giá trị của thành ngữ tục ngữ ca dao trong thơ Nôm là không thể phủ nhận. Nghiên cứu này có thể được sử dụng trong giảng dạy, nghiên cứu văn học và các hoạt động văn hóa khác.

5.1. Ứng dụng trong giảng dạy và nghiên cứu văn học

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu về văn học dân gian, thơ Nôm, Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương. Nghiên cứu này cung cấp những phân tích sâu sắc về cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm, giúp sinh viên và nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và nghệ thuật của thơ Nôm Việt Nam.

5.2. Góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc

Việc nghiên cứu và quảng bá về thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. Thơ Nôm là một phần quan trọng của văn học Việt Nam, thể hiện tinh thần yêu nước, thương dân và những giá trị nhân văn sâu sắc. Nghiên cứu này giúp lan tỏa những giá trị đó đến với cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

VI. Kết Luận Tầm Quan Trọng Của CLDG Trong Thơ Nôm VN

Nghiên cứu về việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương cho thấy tầm quan trọng của văn học dân gian trong sự phát triển của thơ Nôm Việt Nam. Các nhà thơ đã sử dụng ngôn ngữ dân gian một cách sáng tạo để thể hiện những tư tưởng, cảm xúc và quan điểm của mình về cuộc sống, con người và xã hội. Ảnh hưởng của văn hóa dân gian đến thơ Nôm là rất lớn. Việc tiếp tục nghiên cứu về thơ Nômvăn học dân gian sẽ giúp hiểu rõ hơn về văn hóa Việt Nam và đóng góp vào việc bảo tồn, phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc.

6.1. Tổng kết về sự ảnh hưởng của văn học dân gian đến thơ Nôm

Văn học dân gian là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà thơ Nôm. Thành ngữ, tục ngữ, ca dao không chỉ làm cho thơ Nôm trở nên gần gũi, dễ hiểu mà còn mang đến những giá trị văn hóa, lịch sử sâu sắc. Sự kết hợp giữa văn học dân gianvăn học viết đã tạo ra những tác phẩm thơ Nôm độc đáo, có giá trị nghệ thuật cao.

6.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo về thơ Nôm

Nghiên cứu về thơ Nôm còn rất nhiều tiềm năng. Các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào: Phân tích sâu hơn về ngôn ngữthể thơ trong thơ Nôm; Nghiên cứu về ảnh hưởng của thơ Nôm đến các loại hình văn học khác; So sánh thơ Nôm với văn học của các nước trong khu vực. Việc nghiên cứu thơ Nôm cần được đẩy mạnh để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc.

23/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, thƣ mục tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Khảo sát thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi Chƣơng 2: Khảo sát thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hƣơng Chƣơng 3: So sánh sự giống và khác nhau trong sáng tác thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hƣơng (LUAN.Huong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Huong Chƣơng 1 KHẢO SÁT THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, CA DAO TRONG THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI 1. Đôi nét về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi 1. Cuộc đời Nguyễn Trãi (1380 - 1442) hiệu Ức Trai, vốn ngƣời Chi Ngại (làng Ngái), huyện Phƣợng Nhỡn (nay là huyện Chí Linh), Hải Dƣơng, sau rời làng Ngọc Ổi, huyện Thƣợng Phúc, Hà Đông (sau đổi thành làng Nhị Khê, xã Quốc Tuấn, huyện Thƣờng Tín, Hà Tây; nay thuộc Hà Nội). Nhị Khê là một làng quê nằm bên tả ngạn sông Tô Lịch phía Hà Nội chảy về, thuần nông và có nhiều nghề thủ công đặc sắc.

Nguyễn Trãi xuất thân trong một gia đình dòng tộc, nhiều đời là võ quan cao cấp dƣới các triều đại. Dòng họ ông có truyền thống cƣơng trực, khảng khái, khí tiết, lập trƣờng thân dân, từng đứng về phía những ngƣời thế cô, bị hà hiếp để đấu tranh dũng cảm chống lại cƣờng quyền và bạo lực, vì thế dòng họ ấy nhiều lần bị tai họa nặng nề với nhiều mức độ khác nhau dƣới các triều đại phong kiến. Nguyễn Trãi chịu ảnh hƣởng lớn bởi tƣ tƣởng, văn hóa và học thuật cùng nhân cách của ông ngoại, của cha, nhất là tƣ tƣởng thân dân, chăm lo cho dân. Ông ngoại là Chƣơng Túc Quốc Thƣợng hầu Tƣ đồ Trần Nguyên Đán (1325 – 1390), hoàng tộc nhà Trần, là cháu bốn đời của Chiêu Minh đại vƣơng Trần Quang Khải – con trai thứ của Trần Thái Tông, ngƣời sáng lập nhà Trần.

Quan Tƣ đồ là ngƣời có học vấn uyên thâm, nổi tiếng thơ văn, giỏi lịch pháp, thiên văn, độn số và là ngƣời có công giúp Cung Định vƣơng Tả Tƣớng quốc Trần Phủ (tức Trần Nghệ Tông 1370 – 1372, nhƣờng ngôi cho (LUAN.Huong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Huong em, và làm Thƣợng hoàng 1372 – 1394), tiêu diệt Dƣơng Nhật Lễ để khôi phục nhà Trần, đƣợc phong tƣớc hầu, giữ chức Tƣ đồ quyền ngang Tể tƣớng. Thân phụ là Nguyễn Ứng Long (1355 – 1428), sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh, vào năm 1400 ra làm quan dƣới triều Hồ Quý Ly. Ông là con rể của Trần Nguyên Đán, từng đỗ Hoàng giáp trong kỳ thi Đình năm Giáp Dần (1374), niên hiệu Long Khánh thứ 2 triều Trần Duệ Tông (1373 – 1377), nhƣng triều đình không trọng dụng bổ chức quan. Mãi đến khi họ Hồ soán ngôi nhà Trần, thì Nguyễn Ứng Long mới đƣợc Hồ Quý Ly ban chỉ dụ mời ra làm quan với chức Hàn lâm Học sĩ, kiêm Tƣ nghiệp Quốc tử giám.

Mẹ Nguyễn Trãi là Trần Thị Thái, con thứ ba của Trần Nguyên Đán. Năm 1400, Nguyễn Trãi đi thi Đình, đỗ Thái học sinh khoa thi đầu tiên dƣới triều nhà Hồ, năm sau đƣợc cử giữ chức Ngự sử đài Chánh chƣởng. Năm 1407, giặc Minh xâm lƣợc, cha con Hồ Quý Ly bị giặc bắt, nhiều quan lại nhà Hồ bị giết hoặc bị bắt đƣa về giam ở Trung Quốc. Riêng Nguyễn Trãi trốn thoát và bắt đầu mƣời năm tìm đƣờng cứu nƣớc.

Lúc này có hai cuộc khởi nghĩa chống Minh của nhà Hậu Trần do Trùng Quang đế và Giản Định đế lãnh đạo, nhƣng Nguyễn Trãi không theo, mãi đến năm 1418, ông mới vào Lam Sơn phò giúp Lê Lợi. Buổi đầu của cuộc khởi nghĩa, do lực yếu thế cô, có lúc đội quân khởi nghĩa bị giặc Minh đánh tan tác, mỗi ngƣời một nơi. Năm 1412, ông trở lại Lam Sơn lần thứ hai, yết kiến Bình Định vƣơng tại Lỗi Giang, dâng Bình Ngô sách, đƣợc Lê Lợi tin dùng, đối đãi vào hàng quân sƣ, cùng bàn bạc việc quân cơ. Kháng chiến thành công, khi triều đình định công ban thƣởng, dù công lao vào bậc nhất, nhƣng ông chỉ đƣợc ban quốc tính (họ Lê), phong tƣớc Quan phục hầu, chức Thƣợng thƣ Bộ Lại, kiêm Nhập nội Hành khiển và trông coi Môn hạ sảnh, tức những chức quan đối nội, lo việc triều đình, ở bậc hai, bậc ba trong hàng ngũ quan chức đời Lê.

Nhƣng sau đó không lâu do bị Lê Thái Tổ nghi oan trong việc Đèo Cát Hãn nổi loạn đòi (LUAN.Huong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Huong phiên trấn cát cứ, ông bị tù, còn những vị khai quốc công thần nhƣ Phạm Văn Xảo và Trần Nguyên Hãn thì bị bức tử. Khi đƣợc tha thì ông bị mất gần hết chức tƣớc, quốc tính. Gần cuối đời, có thể nói, Nguyễn Trãi gặp nhiều bi kịch, vì thế, ông xin về Côn Sơn làm bạn với trăng thanh gió mát, vui thú với tùng mai, thỉnh thoảng mới về Thăng Long khi triều đình có việc cần. Đến năm 1440, lúc này Lê Thái Tông đã trƣởng thành, đã dẹp yên bè đảng Lê Sát, nhà vua triệu ông ra làm quan trở lại, dù lần này chức tƣớc không cao, nhƣng Nguyễn Trãi vẫn hăm hở ra, chỉ vì dân vì nƣớc và viết bài Tạ ân biểu nổi tiếng.

Cũng vì sự trở lại lần này mà sau đó ông cùng gia tộc bị cái án oan nghiệt Lệ Chi viên vào tháng 9 năm 1442. Ngày 27 tháng 7 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1442), vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh, Hải Dƣơng. Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của ông. Ngày 4 tháng 8 (âm lịch), vua đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc thôn Đại Lai, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh).

Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, một ngƣời thiếp của Nguyễn Trãi, khi ấy đã 40 tuổi, đƣợc vua Lê Thái Tông yêu quý vì sự xinh đẹp, có tài văn chƣơng, luôn đƣợc vào hầu bên cạnh vua. Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng hà, lúc này ông mới có 20 tuổi. Các quan bí mật đƣa về, ngày 6 tháng 8 (âm lịch) mới đến kinh sƣ, nửa đêm vào đến cung mới phát tang. Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua.

Nguyễn Trãi và gia đình bị án tru di tam tộc và bị giết ngày 16 tháng 8 (âm lịch) năm này. Đến tháng 7 năm Giáp Thân (1464), vua Lê Thánh Tông đã rửa oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tƣớc Tán Trù bá và bổ dụng ngƣời con còn sống sót của ông là Nguyễn Anh Vũ. Con ngƣời và sự nghiệp Tìm hiểu cội nguồn của sự hình thành thiên tài Nguyễn Trãi có lẽ không ngoài những nhân tố sau: (LUAN.Huong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Huong - Ảnh hƣởng từ dòng họ với truyền thống cƣơng trực, khảng khái, khí tiết cứng cỏi, đấu tranh chống lại cƣờng quyền, bạo lực, chống cái xấu cái ác làm hại nƣớc hại dân. - Ảnh hƣởng sâu đậm tƣ tƣởng, văn hoá và học thuật cùng nhân cách của ông ngoại, của cha, nhất là tƣ tƣởng thân dân, chăm lo cho dân.

- Từng sống đời sống thanh bần, trong sạch giản dị ở Côn Sơn, ở Nhị Khê từ thuở thiếu thời, cũng nhƣ lúc cáo quan về Côn Sơn, sống gần gũi với nhân dân; đặc biệt là mƣời năm phiêu bạt tìm đƣờng cứu nƣớc nên ông thấu hiểu dân tình, đồng cảm những cảnh ngộ của nhân dân. - Tiếp thu nhiều nguồn văn hoá tƣ tƣởng: trong kinh sách Tam giáo, nhất là Nho giáo; từ truyền thống văn hoá tƣ tƣởng nhân dân; từ tinh hoa văn hoá thời đại Lý - Trần; từ hiện thực thời đại lịch sử; từ thực tế trải nghiệm cuộc sống của bản thân rồi dung hòa, nâng cao thành hệ tƣ tƣởng của thời đại phục hƣng dân tộc sau chiến thắng giặc Minh. Tƣ tƣởng của Nguyễn Trãi cũng chính là tƣ tƣởng tiêu biểu cho tƣ tƣởng Đại Việt ở nửa đầu thế kỷ XV. Vì thế, tuy khái niệm nhân nghĩa là của Nho gia nhƣng quan niệm của ông có khác chút ít so với Khổng Mạnh, và hoàn toàn khác xa với Tống Nho, tƣ tƣởng đó mang tinh thần thân dân, vì dân.

Theo ông, yêu nƣớc chính là yêu dân, thể hiện khát vọng xây dựng đất nƣớc hoà bình, phát triển, nhân dân đƣợc ấm no, hạnh phúc, muốn “yên dân”, thì phải “trừ bạo”. Nguyễn Trãi hội tụ những phẩm chất của một nhà thơ, nhà chính luận, nhà quân sự, nhà địa lí, nhà sử học, nhà ngoại giao. Ông có nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại nhƣ: Quân trung từ mệnh tập, Lam Sơn thực lục, Dư địa chí, Chí Linh sơn phú, Ức Trai di tập, đặc biệt là tập thơ Nôm Quốc âm thi tập. Năm 1980 UNESCO đã công nhận Nguyễn Trãi là Anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới.Huong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Tác phẩm Quốc âm thi tập Xét từ phƣơng diện sáng tác thơ văn, Nguyễn Trãi là một tác gia xuất sắc trên nhiều loại hình văn học. Khi ra đi, ông đã để lại cho dân tộc ta một khối lƣợng lớn các tác phẩm có giá trị văn chƣơng cao mà trong đó có thể kể đến Quốc âm thi tập - một tuyển tập gồm 254 bài thơ làm bằng chữ Nôm đƣợc chia làm bốn môn loại là Vô đề, Môn thời lệnh, Môn hoa mộc và Môn cầm thú. Vô đề: gồm 14 tiểu mục, 192 bài thơ. Môn thì lệnh: gồm 9 tiểu mục, 21 bài thơ.

Môn hoa mộc: gồm 23 tiểu mục, 34 bài thơ. Môn cầm thú: gồm 7 tiểu mục, 7 bài thơ. Không chỉ đƣợc đánh giá là tác phẩm viết bằng ngôn ngữ dân tộc có chỗ đứng quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam, Quốc âm thi tập còn đƣợc coi là tác phẩm đã có công đầu trong công cuộc khẳng định sự tồn tại của dòng văn học tiếng Việt cũng nhƣ vai trò và khả năng thẩm mĩ, phản ánh xã hội và tâm trạng của con ngƣời. Vì là một tác phẩm viết bằng ngôn ngữ dân tộc, ra đời trong những bƣớc đi đầu tiên của nền văn học viết cho nên có thể chắc chắn rằng trong Quốc âm thi tập không thể thiếu các chất liệu của văn học dân gian nhƣ thành ngữ, tục ngữ, ca dao.

Điều này cũng đƣợc giải thích rất xác đáng rằng, bất cứ nền văn học thành văn của bất cứ quốc gia nào cũng lấy văn học dân gian làm nền tảng, đặc biệt là đối với một đất nƣớc bị ngoại bang xâm chiếm kéo dài gần 1000 năm nhƣ Việt Nam.Huong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khảo Sát Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao Trong Thơ Nôm Của Nguyễn Trãi Và Hồ Xuân Hương" mang đến cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ và ca dao trong thơ Nôm của hai tác giả nổi tiếng. Tác phẩm không chỉ phân tích ngữ nghĩa mà còn khám phá cách mà những yếu tố văn hóa dân gian này được tích hợp vào thơ ca, từ đó làm phong phú thêm nội dung và hình thức nghệ thuật. Độc giả sẽ nhận thấy được giá trị văn hóa và nghệ thuật của ngôn ngữ trong thơ ca, cũng như cách mà nó phản ánh tâm tư, tình cảm của con người trong bối cảnh lịch sử cụ thể.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ và văn học, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ ngôn từ thơ thời kỳ kháng chiến chống pháp 1946 1954 nhìn từ bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng, nơi nghiên cứu ngôn từ trong bối cảnh kháng chiến, hay Luận án tiến sĩ hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại việt nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về sự giao thoa ngôn ngữ trong văn học. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ việt nam ẩn dụ tri nhận trong thơ nguyễn bính sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các biện pháp tu từ trong thơ ca, mở rộng thêm hiểu biết về nghệ thuật ngôn ngữ. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan.