chương 1 Người Tày Đăm định cư ở nước CHDCND Lào có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc (Mường Then), giáp với vùng biên giới Việt Nam- Lào - Trung Quốc. Do chiến tranh, họ phải tìm nơi cư trú mới. Vì vậy, tổ tiên của người Tày Đăm đã di cư xuống vào các tỉnh Đông Bắc của Lào, Việt Nam, Thái Lan và định cư ở đó.Ở Lào, đại đa số người Tày Đăm cư trú ở vùng miền Bắc của Lào, từ Bo Li Kham Xay đến Phông Sạ Ly. Đây là vùng khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa Đông khô hạn và mùa Hè nóng ẩm mưa nhiều.
Đặc điểm khí hậu và đất đai rừng núi đã định hình nên những phương thức sản xuất truyền thống: lúa ruộng, lúa nương, săn bắn, hái lượm. Trong đời sống văn hóa, người Tày Đăm vẫn giữ được nhiều nét văn hoá truyền thống về ngôn ngữ, trang phục, nghệ thuật, phong tục tập quán. Huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng thuộc địa bàn vùng núi cao nguyên, nơi người Tày Đăm chiếm số dân đông nhất trong tỉnh. Văn hóa của người Tày Đăm ở huyện Khăm có nét gần giống văn hóa của dân tộc Tày Đăm ở huyện Xoong (huyện Viêng Thoong, tỉnh Hủa Phăn hiện nay).
Chính vì thế, nhiều nhà nghiên cứu của Lào cho rằng: Nguồn gốc của dân tộc Tày Đăm ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng có thể là từ huyện Xoong tỉnh Hủa Phăn. Và họ sang đây từ thời người Hỏ Thung Đeng (từ Trung Quốc) vào cướp ở Hủa Phăn, Luông Phạ Bang. Huyện Khăm là vùng có điều kiện tự nhiên rất đa dạng.Những đặc điểm tự nhiên này đã tạo nên những dấu ấn đậm nét trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân ở đây, nhất là dân tộc Tày Đăm. Song do sống cùng người Lào và một số dân tộc khác cho nên ít nhiều về kinh tế, văn hóa, cùng với yếu tố môi trường của họ cũng bị ảnh hưởng.
16 Chương 2 ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA DÂN TỘC THÁI ĐEN (TÀY ĐĂM) Ở HUYỆN KHĂM, TỈNH XIÊNG KHOẢNG, NƯỚC CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN 1975 - 2015 Như chúng ta đã biết, lịch sử phát triển nền văn hóa cũng như lịch sử phát triển kinh tế của các dân tộc ở Lào nói chung, trong đó có dân tộc Thái Đen nói riêng luôn gắn liền với lịch sử phát triển của nghề truyền thống dân tộc - những sản phẩm kinh tế thuần túy cho sinh hoạt hàng ngày. Đó chính là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng của tinh hoa văn hóa dân tộc và những kinh nghiệm phát triển kinh tế truyền thống được lưu truyền từ đời này sang đời khác, tạo nên bản sắc riêng của mình nhưng lại tiêu biểu và độc đáo của cả dân tộc. Người Thái Đen ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng là những cư dân nông nghiệp.Ngành nghề chính của họ là trồng lúa nước, hoa màu; chăn nuôi (trâu, bò, lợn, gà, dê, cá. Đan lát, dệt thổ cẩm cũng là nghề nổi tiếng của người Thái Đen.
Bên cạnh đó là một số loại hình dịch vụ buôn bán nhỏ lẻ.Tập trung chủ yếu ở những nơi đông dân cư. Với sự đa dạng ngành nghề như vậy đã giúp mang lại nhiều thu nhập cho cho cư dân Thái Đen ở huyện Khăm. Điều này được thể hiện rõ nét trong từng lĩnh vực kinh tế như sau: 2. Kinh tế nông nghiệp Cũng giống mọi cư dân vùng miền Bắc của Lào, sau giải phóng đất nước (năm 1975) cho đến những năm thực hiện đổi mới (năm 1986), trồng trọt vẫn là ngành sản xuất chính của người Thái Đen ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng.
Các hoạt động kinh tế khác như: chăn nuôi, làm nghề thủ công, trao đổi hàng hóa, khai thác nguồn lợi tự nhiên (chủ yếu là sắn bắn, hái lượm) vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của đồng bào Thái Đen. Do điều kiện tự nhiên của huyện Khăm là nằm ở vùng cao nguyên nên có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Và đó cũng là cơ sở để hoạt động sản 17 xuất nông nghiệp của người Thái Đen ở vùng này có những đặc trưng riêng biệt so với hoạt động sản xuất nông nghiệp của người Thái Đen ở vùng khác. Trồng lúa nước Người Thái Đen là cư dân sinh sống lâu đời ở đây.
Vì vậy, ngay từ thời gian đầu đặt chân đến mảnh đất này, người Thái Đen đã tập trung vào việc khai phá ruộng đất ở những thung lũng thành những cánh đồng rộng lớn. Với bộ nông cụ làm ruộng như: cày, mai, xẻng; cùng các biện pháp kĩ thuật liên hoàn (làm đất, làm mạ, gieo cấy, chăm sóc và thu hoạch). Đặc biệt là hệ thống thuỷ lợi “dẫn thuỷ nhập điền” mương, phai, lái, lịn và cọn nước. Kết hợp với các nghi lễ tín ngưỡng liên quan.
Trước đây, mặc dù không được bón phân nhiều nhưng cây lúa vẫn tốt bởi vì trồng một vụ. Trong 6 tháng đồng ruộng bỏ không, từ gốc rạ, cây lúa mọc lên là nguồn thức ăn dồi dào cho trâu, bò. Trong quá trình đó, việc di chuyển qua lại liên tục của trâu bò một phần làm cho ruộng ngấu ra, chất thải của chúng quện với rơm, rạ cũng tạo mùn cho đất. Bên cạnh đó, cư dân còn biết làm phân bón bằng cách đào hố, chặt cây dã quỳ, cúc dại và các cây thân mềm khác trộn với phân trâu bò rồi ủ, đem bón cho ruộng; lấy nước có hàm lượng chất khoáng cao vào ruộng từ kinh nghiệm dân gian, với hệ thống mương, phai hoàn chỉnh, đảm bảo nước quanh năm.
Người Thái Đen ở mường Khăm thường lấy nước theo hai cách. Cách thứ nhất: mặt ruộng bằng với mặt nước, hay nó thấp hơn thì người ta đắp đập cho nước dâng lên rồi đào mương dẫn vào ruộng. Đập đó người ta gọi là phai. Cách thứ hai: mặt ruộng cao hơn mặt nước thì người ta tạo ra hệ thống bánh xe nước (lũng cọn).
Đường kính bánh xe tùy vào độ cao của mặt ruộng. Chỗ nào mặt ruộng cao thì đường kínhbánh xe lớn, chỗ nào mặt ruộng thấp hơn thì đường kính vừa phải. Tối đa có những bánh xe đường kính lên đến 5 - 6m. Với hệ thống thủy lợi như vậy, có mương phai, có lũng cọn làm cho hệ thống tưới tiêu của người làm ruộng trở nên hoàn chỉnh.
Hầu như 100% diện tích ruộng của người Thái Đen được tưới nước chỉ bằng hai cách ấy. 18 Người Thái Đen còn một biện pháp nữa để chăm sóc, tạo nhuyễn cho đất. Đó là biện pháp “thủy nậu”. Đây là lối canh tác dùng tay, chân sục cho bùn, cỏ hòa nhuyễn rồi cấy luôn.
Điển hình cho lối canh tác này là dùng trâu quần ruộng. Ruộng trâu quần tốt nhất là ruộng ngâm nước. Nếu là ruộng chờ mưa, người ta phải ngâm một thời gian ngắn từ 4-5 ngày để cho đất mềm. Bình thường, để quần một thửa ruộng người ta phải dùng 2 - 3 con trâu.
Người ta đưa trâu xuống ruộng, điều khiển chúng đi thành vòng tròn đồng tâm, giẫm đi, giẫm lại, hết vòng này đến vòng kia, cho đến khi đất ngấu. Quần đến lần thứ 3, nếu đất chưa ngấu, người ta để khoảng 1 tuần sau rồi lại cho trâu quần tiếp.Trâu quần thường lành, tập tính bày đàn cao, nên chỉ cần 2 người chỉ huy là có thể cho đàn trâu quần ruộng. Một người điều khiển con đầu đàn, một người đi xung quanh, khi thấy con trâu nào phá bĩnh, không đi đúng đường, người ta lại xua nó đi theo đúng hàng lối. Sức người, sức trâu được sử dụng hợp lý, tối đa là vì thế.
Nếu so với kỹ thuật hiện đại ngày nay như dùng máy cày, máy bừa thì việc dùng trâu quần chậm hơn, đất cũng không nhuyễn bằng.Nhưng không phải vì thế mà họ bỏ đi kỹ thuật này. Hiện ở những thửa ruộng hẹp, cày bừa khó, người ta vẫn sử dụng hình thức trâu quần. Năng suất và chất lượng cũng không kém so với các mảnh ruộng được cày bừa bằng máy móc. Qua nhiều thế hệ, người Thái Đen đã đúc kết và tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp.
Hiện nay, người Thái Đen ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng đã chuyển sang làm hai vụ lúa. Vụ chiêm cấy tháng 2, thu hoạch tháng 5; vụ mùa cấy tháng 7 thu hoạch tháng 10.Đa số người Thái Đen đã vận dụng những kỹ thuật hiện đại vào công việc canh tác lúa nước. Cụ thể: Làm đất: Ruộng phải bằng phẳng, có hệ thống thoát nước tốt và không đọng nước. Sau khi chọn nơi bằng phẳng làm ruộng.Công việc đầu tiên mà người nông dân phải làm là dọn sạch cỏ, trục đánh bùn và san bằng mặt ruộng bằng máy cày bánh lồng.Người Thái Đen ở huyện Khăm cày đất bằng máy, 19 bừa và phơi ải trong thời gian 1 tháng.
Bừa, trục và san bằng mặt ruộng bằng máy kéo bánh lồng hay bánh sắt có công cụ trang phẳng mặt ruộng kèm theo. Gieo mạ và cấy: Gieo mạ bằng tay sau khi đánh rãnh và kéo bằng mặt ruộng. Chọn ruộng nơi khuất gió để làm mạ. Quá trình làm mạ được diễn ra như sau: cày bừa kỹ; lên luống (mặt luống rộng hay hẹp tuỳ thuộc vào độ rộng của nilon che phủ).
Sau khi đã san phẳng mặt luống, dùng nilon đã chọc thủng nhiều lỗ hoặc bao xác rắn rải lên mặt luống. Tiếp đó, phủ một lớp bùn dày khoảng 2 - 2,5 cm. Tiếp tục bón phân lên trên rồi xoa đều phân với lớp đất bùn. Cuối cùng là gieo mạ.
Chia lượng thóc giống để gieo đi gieo lại nhiều lần cho thật đều. Gieo mạnh tay cho mộng lún sâu (kín hạt) vào trong bùn. Khi mạ được 15-18 ngày, ra nhiều rễ trắng, trời ấm thì lật từng mảng mạ đem cấy. Chăm sóc Làm cỏ: Ruộng lúa cần được theo dõi, làm cỏ, khử lẫn thường xuyên.
Các thời điểm cần lưu ý là:10- 15 ngày sau khi sạ, cấy,theo dõi và nhổ cỏ sót trên ruộng để giảm nguy cơ cạnh tranh dinh dưỡng ngay từ đầu vụ. 30- 35 ngày sau khi sạ, cấy là thời điểm trổ bông của 1 số loại cỏ (cỏ lồng vực, đuôi phụng…) hay lúa dại có kiểu hình khác với lúa nhà nên rất dễ dàng phát hiện và loại trừ. Khi lúa trỗ 30- 50%: Tiếp tục loại trừ cỏ dại và lúa dại để tránh chúng rụng hạt trên ruộng. Trước khi thu hoạch, loại trừ cỏ dại và lúa dại để tránh sự lẫn tạp của chúng vào lúa sau khi thu hoạch.
Bón phân: Dinh dưỡng cho lúa được bón bổ sung ở các thời điểm sau: Bón lót: Trước khi cấy. Bón thúc lần 1: Bón vào 7-10 ngày sau cấy. Bón thúc lần 2: Bón khi 50% chồi chính trên đồng có đòng 1mm. Bón bổ sung: Có thể phun phân qua lá để bổ sung khi lúa trỗ đều khi cần thiết.