Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay" được nghiên cứu và thực hiện bởi tác giả Hoàng Quốc Hồng, dưới sự hướng dẫn khoa học của Hoàng Thị Ngân tại Trường Đại học Luật Hà Nội (thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tư pháp), bảo vệ năm 2007 thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật (mã số: 62 38 01 01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong cơ chế tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoạt động xét xử của Tòa án giữ vị trí trung tâm của quyền tư pháp. Để đáp ứng yêu cầu chuyên môn hóa trong việc giải quyết các tranh chấp hành chính phát sinh giữa cơ quan công quyền và công dân, ngày 28/10/1995, Quốc hội khóa IX đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992, chính thức thành lập Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân.

Sau hơn 10 năm đi vào hoạt động (từ năm 1996 đến năm 2007), Tòa hành chính đã bước đầu khẳng định vai trò là thiết chế dân chủ và công cụ kiểm soát đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên, tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính bộc lộ nhiều điểm bất cập:

  • Hệ thống văn bản pháp luật tố tụng hành chính vừa thiếu, vừa chậm sửa đổi, còn mâu thuẫn và chồng chéo;
  • Trình tự, thủ tục tố tụng chưa phản ánh đầy đủ nét đặc thù của quan hệ tố tụng hành chính;
  • Thẩm quyền xét xử bị phân tán cho nhiều tòa án khác nhau, qua nhiều cấp xét xử dẫn đến thời gian giải quyết kéo dài;
  • Mô hình tổ chức gắn liền với đơn vị hành chính lãnh thổ (chỉ thành lập đến cấp tỉnh), dẫn đến việc hoạt động của Tòa án chịu ảnh hưởng nhất định từ chính quyền địa phương;
  • Đội ngũ thẩm phán xét xử vụ án hành chính còn thiếu về số lượng, trình độ chuyên môn sâu về quản lý hành chính nhà nước chưa cao.

Trước yêu cầu hội nhập quốc tế và chủ trương cải cách tư pháp được thể hiện qua các văn kiện của Đảng—đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 khóa VII (1995), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội IX (2001) và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020—việc nghiên cứu toàn diện nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính là đòi hỏi khách quan, cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và xác định các nội dung đổi mới tổ chức, hoạt động của Tòa hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu, phân tích có hệ thống cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hệ thống Tòa án nhân dân.
  2. Phân tích vị trí, vai trò, đặc điểm của Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân; đánh giá toàn diện quá trình hình thành, phát triển và thực trạng tổ chức, hoạt động của Tòa hành chính ở Việt Nam, từ đó rút ra các hạn chế và nguyên nhân cốt lõi.
  3. Phân tích, luận giải sự cần thiết của việc xây dựng mô hình Tòa hành chính phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đề xuất hệ thống quan điểm, yêu cầu và các giải pháp cơ bản đổi mới tổ chức, hoạt động của Tòa hành chính.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan trực tiếp đến đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, hệ thống pháp luật tố tụng hành chính và thực tiễn tổ chức, hoạt động xét xử của Tòa hành chính từ khi thành lập (năm 1996) đến năm 2007 trong khuôn khổ hệ thống Tòa án nhân dân Việt Nam, đặt trong bối cảnh cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Vấn đề tài phán hành chính và tổ chức Tòa hành chính tại Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu pháp lý qua nhiều bài viết học thuật, đề tài nghiên cứu khoa học và công trình chuyên khảo.

Nhóm công trình Tác giả / Cơ quan chủ trì Tên công trình, bài viết và nguồn công bố Nội dung chính và đóng góp
Bài báo khoa học Nguyễn Thanh Bình (1996) "Tổ chức và hoạt động của toà án hành chính - một biện pháp mới bảo đảm quyền con người ở Việt Nam" (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8/1996) Khẳng định Tòa hành chính là công cụ bảo đảm quyền con người trong quản lý nhà nước.
GS. Đoàn Trọng Truyến (1996) "Tài phán hành chính, cơ chế kiểm tra tính hợp pháp của các văn bản hành chính ở nước ta hiện nay" (Tạp chí Thanh tra, số 7/1996) Phân tích cơ chế tài phán trong kiểm tra tính hợp pháp của quyết định, văn bản hành chính.
PGS. Nguyễn Niên (1996) "Về thành lập toà án hành chính ở Việt Nam" (Tạp chí Thanh tra, số 1/1996) Luận giải tính tất yếu của việc thiết lập Tòa hành chính.
Đinh Văn Minh (1996) "Về việc xác định thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính ở nước ta" (Tạp chí Quản lý nhà nước, số 1/1996) Đề cập các tiêu chí xác định thẩm quyền xét xử vụ án hành chính.
TS. Phạm Hồng Thái (1996) "Một số ý kiến về đào tạo bồi dưỡng thẩm phán hành chính" (Tạp chí Thanh tra, số 1/1996) Nêu yêu cầu đào tạo chuyên môn cho đội ngũ thẩm phán xét xử hành chính.
Nguyễn Thanh Bình (1999) "Một số vấn đề về thẩm quyền xét xử hành chính của toà án nhân dân" (Tạp chí Quản lý nhà nước, số 7/1999) Phân tích phạm vi thẩm quyền của Tòa án trong xử lý khiếu kiện hành chính.
TS. Vũ Thư (2003) "Sự hình thành và phát triển của tư pháp hành chính ở nước ta" (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 10/2003) Khái quát lịch sử hình thành thiết chế tư pháp hành chính tại Việt Nam.
PGS. Vũ Thư (2005) "Các khía cạnh lí luận và thực tiễn của việc thiết lập cơ quan tài phán hành chính thuộc hệ thống hành pháp" (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4/2005) Phân tích phương án đặt cơ quan tài phán hành chính trong nhánh hành pháp.
Sách chuyên khảo, Luận án, Luận văn TS. Lê Bình Vọng (1994) Sách chuyên khảo "Một số vấn đề về tài phán hành chính ở Việt Nam" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội) Lý giải mối liên hệ giữa quản lý hành chính và tài phán hành chính; đề xuất nguyên tắc và mô hình thiết lập Tòa hành chính.
TS. Nguyễn Thanh Bình (2003) Luận án tiến sĩ "Thẩm quyền của toà án nhân dân trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính" Xây dựng khái niệm thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính; phân tích bất cập trong phân định thẩm quyền và kiến nghị giải pháp.
ThS. Trần Quang Hiển (2004) Luận văn thạc sĩ "Hoàn thiện pháp luật về tài phán hành chính ở Việt Nam hiện nay" Đánh giá thực trạng pháp luật tài phán hành chính, kiến nghị sửa đổi quy định về thẩm quyền và thủ tục tố tụng.
Đề tài NCKH cấp Bộ và cấp Nhà nước Thanh tra Nhà nước (1993) Đề tài cấp Bộ mã số 92-98-207/ĐT: "Cơ sở khoa học của việc thiết lập hệ thống toà án hành chính ở Việt Nam" Khảo sát lịch sử tài phán hành chính thế giới và Việt Nam; đề xuất 2 phương án tổ chức: Tòa chuyên trách trong TAND hoặc Tòa án hành chính độc lập (với 3 loại hình).
Bộ Tư pháp, HVHCQG, VPCP, VPQH, TANDTC (1997) Đề tài cấp Nhà nước mã số 95-98-406/ĐT: "Toà án hành chính - những vấn đề lí luận và thực tiễn" Xác định tính đặc thù của hoạt động xét xử hành chính; đề xuất 3 mô hình tổ chức (độc lập trực thuộc Quốc hội; trực thuộc Thủ tướng Chính phủ; trong hệ thống TAND).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tập trung giải quyết từng vấn đề riêng lẻ (như thẩm quyền xét xử, đào tạo thẩm phán, hoặc cơ sở ban đầu để thành lập Tòa hành chính). Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống về tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính gắn liền với các yêu cầu cụ thể của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Luận án đặt mục tiêu khỏa lấp khoảng trống này thông qua cách tiếp cận tổng thể từ lý luận, lịch sử, thực trạng đến hệ thống giải pháp đồng bộ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Nền tảng tư tưởng và lý luận: Luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; lý thuyết về nhà nước pháp quyền; các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách bộ máy nhà nước và chiến lược cải cách tư pháp.
  • Cơ sở chính trị - pháp lý: Các văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết Trung ương (khóa VII, VIII, IX), Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị; các quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật tổ chức Tòa án nhân dân (các năm 1992, 1995, 2002), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (năm 1996, sửa đổi các năm 1998, 2006) và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để làm sáng tỏ các khái niệm khoa học pháp lý, đặc điểm, vị trí, vai trò của Tòa hành chính, các nguyên tắc tổ chức hoạt động, và yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với hoạt động xét xử hành chính.
  • Phương pháp so sánh: Sử dụng để đối chiếu mô hình cơ quan tài phán hành chính của các quốc gia trên thế giới (mô hình nhất hệ tài phán, mô hình lưỡng hệ tài phán, mô hình hỗn hợp); so sánh số liệu thụ lý, kết quả xét xử và công tác đào tạo cán bộ qua từng thời kỳ nhằm rút ra các giá trị phù hợp với Việt Nam.
  • Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu tiến trình hình thành và phát triển của thiết chế tài phán và Tòa hành chính tại Việt Nam qua các mốc thời gian lịch sử tương ứng.
  • Phương pháp thống kê: Lập bảng số liệu, ghi chép và cập nhật dữ liệu về số lượng vụ án hành chính Tòa án thụ lý, tỷ lệ giải quyết, số lượng thẩm phán được đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ qua các năm.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành thăm dò, khảo sát thực tế nhằm thu thập thông tin đánh giá về nhận thức xã hội, thực tiễn giải quyết khiếu kiện hành chính và vướng mắc từ phía cơ quan quản lý cũng như người dân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận đổi mới tổ chức và hoạt động của toà hành chính đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

Chương 1 tập trung xây dựng khung lý luận về thiết chế Tòa hành chính trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm vị trí, vai trò, nguyên tắc tổ chức hoạt động và thẩm quyền xét xử.

1. Vị trí và vai trò của Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân

  • Vị trí pháp lý: Trong cấu trúc quyền lực nhà nước Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (Điều 2 Hiến pháp 1992 sửa đổi). Sự phân công này là phương thức phân công lao động quyền lực nhằm tối ưu hóa tổ chức bộ máy. Tòa án là trung tâm của hệ thống tư pháp, thực hiện chức năng xét xử nhân danh công lý. Tòa hành chính là một phân tòa chuyên trách trong hệ thống Tòa án nhân dân (theo Điều 127 Hiến pháp 1992 và Luật sửa đổi Luật tổ chức TAND năm 1995), có vị trí độc lập tương đối về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền xét xử đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện.
  • Vai trò xã hội và pháp lý:
    • Bảo vệ quyền tự do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân: Tạo lập cơ chế tư pháp độc lập để người dân thực hiện quyền khiếu kiện hành vi, quyết định của cơ quan công quyền.
    • Bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể: Thiết lập quan hệ bình đẳng giữa công dân ("dân") và cơ quan hành chính nhà nước/người có thẩm quyền ("quan") trước pháp luật tại phiên tòa.
    • Kiểm soát hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước: Giám sát tính hợp pháp của các quyết định hành chính và hành vi hành chính, bảo đảm cơ quan công quyền hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, hạn chế tệ quan liêu, cửa quyền, lạm quyền.
    • Nâng cao ý thức pháp luật và trách nhiệm công vụ: Tác động trực tiếp đến việc chuẩn hóa quy trình ban hành quyết định hành chính của cán bộ, công chức; góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật qua thực tiễn xét xử.

2. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính

Chương 1 luận giải 6 nguyên tắc căn bản chi phối tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính:

  1. Nguyên tắc bổ nhiệm thẩm phán: Thẩm phán TANDTC do Chủ tịch nước bổ nhiệm; thẩm phán địa phương do Chánh án TANDTC bổ nhiệm (theo Luật tổ chức TAND năm 2002). Đối với thẩm phán hành chính, cần có tiêu chuẩn đặc thù: phẩm chất đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp, năng lực chuyên môn sâu về quản lý hành chính nhà nước, cùng kỹ năng giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ pháp lý tại phiên tòa.
  2. Nguyên tắc xét xử có hội thẩm nhân dân tham gia: Thể hiện bản chất dân chủ của nền tư pháp nhân dân (Điều 129 Hiến pháp 1992). Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán khi biểu quyết, đưa tri thức xã hội và tâm tư của quần chúng vào quá trình phán quyết, hỗ trợ giám sát hoạt động tố tụng.
  3. Nguyên tắc xét xử tập thể, quyết định theo đa số: Quy định tại Điều 131 Hiến pháp 1992 và Điều 6 Luật tổ chức TAND năm 2002. Đảm bảo trí tuệ tập thể, giảm thiểu sai sót chủ quan khi giải quyết các tranh chấp hành chính phức tạp liên quan đến quyền lực công.
  4. Nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật: Đảm bảo việc ra phán quyết không bị can thiệp bởi mệnh lệnh hành chính, sự chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên hay chính quyền địa phương; khắc phục tâm lý e ngại, nể nang cơ quan công quyền.
  5. Nguyên tắc xét xử công khai: Ghi nhận tại Điều 131 Hiến pháp 1992, Điều 7 Luật tổ chức TAND 2002 và khoản 2 Điều 39 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Bảo đảm tính minh bạch, tạo điều kiện cho nhân dân và xã hội giám sát hoạt động tư pháp.
  6. Nguyên tắc tiền tố tụng: Quy định bắt buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện thủ tục khiếu nại hành chính tại cơ quan có thẩm quyền trước khi khởi kiện ra Tòa án. Nguyên tắc này giúp cơ quan hành chính tự kiểm tra, sửa chữa sai sót nhanh chóng, giảm tải áp lực thụ lý cho Tòa án khi đội ngũ thẩm phán còn mỏng.

3. Thẩm quyền và đặc điểm của hoạt động xét xử hành chính

  • Thẩm quyền và đối tượng xét xử: Đối tượng xét xử của Tòa hành chính là tính hợp pháp của các quyết định hành chính cá biệt, quyết định kỷ luật buộc thôi việc và hành vi hành chính của cơ quan quản lý nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan đó.
  • Đặc điểm hoạt động xét xử: Một bên trong quan hệ tố tụng luôn là chủ thể mang quyền lực nhà nước; chứng cứ gắn liền với hồ sơ quản lý hành chính; phán quyết của Tòa án trực tiếp tác động đến hiệu lực quản lý nhà nước và quyền lợi của công dân.

Chương 2: Quá trình hình thành và phát triển, thực trạng tổ chức và hoạt động của toà hành chính ở Việt Nam

Chương 2 tổng kết tiến trình lịch sử và phân tích thực trạng tổ chức, hoạt động xét xử của Tòa hành chính tại Việt Nam từ khi thành lập đến năm 2007.

1. Quá trình hình thành và phát triển qua các giai đoạn lịch sử

  • Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945: Tồn tại các thiết chế tài phán mang tính chất sơ khai thời phong kiến và mô hình cơ quan tài phán hành chính thời kỳ thuộc Pháp.
  • Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975: Cơ chế giải quyết khiếu nại chủ yếu dựa trên hệ thống cơ quan hành chính và thanh tra, chưa thiết lập Tòa hành chính riêng biệt.
  • Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1995: Thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, khiếu nại được giải quyết theo kênh nội bộ hành chính; từ cuối thập kỷ 80 xuất hiện yêu cầu đổi mới cơ chế giải quyết khiếu nại để phục vụ phát triển kinh tế thị trường.
  • Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2007: Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức TAND năm 1995 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, đánh dấu sự ra đời chính thức của Tòa hành chính thuộc TAND cấp tỉnh và TANDTC (bắt đầu hoạt động từ 01/07/1996).

2. Thực trạng tổ chức, thẩm quyền và thủ tục tố tụng

  • Tổ chức bộ máy: Tòa hành chính chỉ được thành lập ở TAND tối cao và TAND cấp tỉnh; cấp huyện chưa thành lập tòa chuyên trách mà giao cho thẩm phán kiêm nhiệm giải quyết các vụ án hành chính sơ thẩm theo quy định.
  • Thẩm quyền xét xử: Quy định theo phương pháp "liệt kê" (chọn - cho) các nhóm loại việc cụ thể mà Tòa án được quyền thụ lý, dẫn đến phạm vi xét xử bị hạn chế, chưa bao quát hết các tranh chấp phát sinh trong quản lý nhà nước.
  • Trình tự, thủ tục tố tụng: Luận án khảo sát thực tế qua các khâu: thụ lý đơn khởi kiện, các quyết định sau khi thụ lý và tiến hành phiên tòa xét xử. Thủ tục tố tụng hành chính còn chịu ảnh hưởng nặng bởi mô hình tố tụng dân sự, thiếu các quy định đặc thù dành riêng cho việc thu thập chứng cứ và đối chất với cơ quan công quyền.

3. Những hạn chế và nguyên nhân

  • Hạn chế:
    • Số lượng vụ án hành chính được đưa ra xét xử còn ít so với tổng số đơn khiếu nại phát sinh trong xã hội;
    • Tỷ lệ bản án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của thẩm phán còn tồn tại;
    • Việc thi hành bản án, quyết định của Tòa hành chính gặp nhiều trở ngại do cơ chế cưỡng chế thi hành án đối với cơ quan nhà nước chưa đồng bộ;
    • Tòa án cấp huyện chịu sự phụ thuộc lớn về cơ sở vật chất và nhân sự vào cấp ủy, chính quyền địa phương.
  • Nguyên nhân:
    • Hệ thống pháp luật tố tụng hành chính chậm hoàn thiện, quy định phân tán;
    • Thẩm quyền xét xử theo phương pháp liệt kê làm thu hẹp quyền tiếp cận công lý của người dân;
    • Trình độ, bản lĩnh chính trị và kiến thức quản lý nhà nước của một bộ phận thẩm phán chưa đáp ứng yêu cầu;
    • Nhận thức của cán bộ, công chức và người dân về vai trò của Tòa hành chính còn hạn chế, tâm lý "ngại kiện chính quyền" còn phổ biến.

Chương 3: Yêu cầu, quan điểm, giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của toà hành chính theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện trên cơ sở các yêu cầu và quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp.

1. Yêu cầu và quan điểm đổi mới

  • Ba yêu cầu cơ bản:
    1. Đáp ứng yêu cầu tăng cường giám sát hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước.
    2. Đáp ứng yêu cầu tăng cường bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
    3. Đáp ứng yêu cầu bảo đảm tính công bằng, bình đẳng và dân chủ trong hoạt động tố tụng.
  • Năm quan điểm chỉ đạo:
    1. Đổi mới phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam.
    2. Dựa trên quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
    3. Đặt trong mối quan hệ biện chứng với công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia.
    4. Đặt trong tổng thể chiến lược cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị.
    5. Đòi hỏi bước đi thích hợp, có lộ trình vững chắc và kế thừa các thành tựu đã đạt được.

2. Các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động

  1. Đổi mới mô hình tổ chức Tòa hành chính:
    • Nghiên cứu thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực (không phụ thuộc vào địa giới đơn vị hành chính cấp huyện) theo tinh thần cải cách tư pháp, giảm bớt sự phụ thuộc của Tòa án vào chính quyền địa phương;
    • Kiện toàn tổ chức Tòa hành chính tại TAND cấp tỉnh và TAND tối cao theo hướng chuyên trách thực chất.
  2. Phân định lại thẩm quyền xét xử:
    • Chuyển đổi phương pháp xác định thẩm quyền từ phương pháp "liệt kê" sang phương pháp "loại trừ" (Tòa án có thẩm quyền xét xử mọi quyết định hành chính, hành vi hành chính gây thiệt hại đến quyền lợi của cá nhân, tổ chức, trừ các quyết định mang tính bí mật nhà nước, an ninh quốc phòng do luật định);
    • Mở rộng thẩm quyền của Tòa án cấp sơ thẩm khu vực trong việc thụ lý các khiếu kiện hành chính đối với quyết định, hành vi của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.
  3. Tăng cường xây dựng đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân dân:
    • Chuẩn hóa tiêu chuẩn tuyển chọn, bổ nhiệm thẩm phán hành chính;
    • Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về luật hành chính, thủ tục tố tụng hành chính và kỹ năng tranh tụng tại Học viện Tư pháp;
    • Nâng cao trình độ hiểu biết pháp lý và chế độ đãi ngộ đối với hội thẩm nhân dân tham gia xét xử hành chính.
  4. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật:
    • Đẩy nhanh quá trình xây dựng và ban hành Luật Tố tụng hành chính (thay thế Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính hiện hành);
    • Sửa đổi các quy định về thời hiệu khởi kiện, thủ tục tiền tố tụng theo hướng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người khởi kiện;
    • Hoàn thiện chế tài bảo đảm thi hành nghiêm minh các bản án, quyết định của Tòa hành chính đã có hiệu lực pháp luật.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa các luận điểm khoa học về bản chất, vị trí, vai trò của Tòa hành chính trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
  • Phân tích và làm rõ mối quan hệ giữa hoạt động xét xử hành chính với nguyên tắc thống nhất quyền lực nhà nước có sự phân công, phối hợp;
  • Xác lập cơ sở khoa học cho việc xác định thẩm quyền, đối tượng xét xử và các đặc thù của tố tụng hành chính, làm sáng tỏ tính độc lập của thẩm phán khi xét xử các tranh chấp công quyền.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh toàn diện và hệ thống về thực trạng tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính tại Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2007;
  • Chỉ rõ các nguyên nhân thể chế, tổ chức và con người dẫn đến những hạn chế trong công tác xét xử hành chính;
  • Đề xuất mô hình đổi mới tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử (Tòa án khu vực), phương án mở rộng thẩm quyền xét xử theo nguyên tắc loại trừ, và các giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hành chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án được thực hiện trong giai đoạn các cơ quan nhà nước đang triển khai Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị và trước thời điểm Quốc hội thông qua Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Do đó, các khảo sát thực tiễn dừng lại ở số liệu giai đoạn 1996 - 2007 và dựa trên khung pháp lý của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu đánh giá tác động sau khi thể chế hóa mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực và áp dụng Luật Tố tụng hành chính mới;
    • Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế cưỡng chế thi hành án hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước;
    • Nghiên cứu mô hình cơ quan tài phán hành chính chuyên biệt trong điều kiện chuyển đổi số và cải cách nền hành chính quốc gia.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp: Luận án là nguồn tài liệu tham khảo cho Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp trong việc xây dựng Luật Tố tụng hành chính và sửa đổi Luật tổ chức Tòa án nhân dân.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Cung cấp tài liệu học tập, giảng dạy chuyên đề Luật Hành chính, Luật Tố tụng hành chính và Khoa học xét xử tại các cơ sở đào tạo luật (Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Tư pháp).
  • Đối với đội ngũ thẩm phán và cán bộ tư pháp: Là tài liệu tham khảo nghiệp vụ trong việc nhận thức các nguyên tắc xét xử độc lập, bảo đảm tranh tụng bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền.

Câu hỏi thường gặp

1. Tòa hành chính tại Việt Nam được chính thức thành lập vào thời điểm nào và theo căn cứ pháp lý nào?

Tòa hành chính được thành lập theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992, được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 28/10/1995 (triển khai hoạt động thực tế từ ngày 01/07/1996) trên cơ sở tinh thần của Điều 127 Hiến pháp năm 1992.

2. Hai phương án xây dựng hệ thống Tòa án hành chính từng được Đề tài cấp Bộ năm 1993 đề xuất là gì?

  • Phương án 1: Tổ chức Tòa hành chính thành tòa chuyên trách trong hệ thống Tòa án nhân dân nhằm làm gọn nhẹ bộ máy và tận dụng biên chế hiện có.
  • Phương án 2: Tổ chức hệ thống Tòa án hành chính độc lập với 3 loại hình tổ chức (theo cấp hành chính hoặc theo khu vực phúc thẩm).

3. Nguyên tắc "tiền tố tụng" trong hoạt động xét xử hành chính có ý nghĩa gì?

Nguyên tắc tiền tố tụng yêu cầu người khởi kiện phải khiếu nại trước tại cơ quan hành chính có thẩm quyền. Ý nghĩa của nguyên tắc này là tạo cơ hội cho cơ quan hành chính tự rà soát, sửa đổi quyết định sai sót một cách nhanh chóng, đồng thời giúp giảm tải khối lượng thụ lý cho Tòa hành chính.

4. Luận án đề xuất giải pháp cốt lõi nào nhằm đổi mới thẩm quyền xét xử của Tòa hành chính?

Luận án đề xuất chuyển từ phương pháp xác định thẩm quyền "liệt kê" (chỉ được xét xử những loại việc luật chỉ định) sang phương pháp "loại trừ" (Tòa án có thẩm quyền xét xử mọi quyết định, hành vi hành chính gây xâm phạm quyền lợi hợp pháp, trừ những trường hợp đặc biệt liên quan đến bí mật nhà nước, an ninh quốc phòng do luật quy định riêng).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Quốc Hồng là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về cơ sở lý luận, thực tiễn tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính trong giai đoạn đầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Công trình đã phân tích sâu sắc các nguyên tắc tổ chức, đánh giá khách quan thành tựu cùng những hạn chế sau hơn 10 năm hoạt động của Tòa hành chính (1996 - 2007). Hệ thống quan điểm, yêu cầu và các nhóm giải pháp đề xuất trong luận án—đặc biệt là đổi mới mô hình tổ chức Tòa án không phụ thuộc vào địa giới hành chính và mở rộng thẩm quyền xét xử—đã đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho tiến trình cải cách tư pháp và hoàn thiện pháp luật tố tụng hành chính tại Việt Nam.