Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ 1. Khái niệm về đổi mới Đổi mới là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội cũng nhƣ trong tƣ duy. Bất kỳ sinh vật nào cũng luôn luôn tự Đổi mới để thích nghi với những sự thay đổi của môi trƣờng sống. Đối với xã hội, Đổi mới là một phản ứng mang tính tự nhiên của xã hội để bảo đảm sự thích nghi của nó trƣớc những biến đổi môi trƣờng tự nhiên, môi trƣờng quốc tế, để thích ứng với tình thế.
Đổi mới là quá trình vận động tự nhiên của mọi hiện tƣợng xã hội. Ngay từ năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng khái niệm “Đổi mới” trong sự vận dụng cụ thể vào Đổi mới đất nƣớc. Ngƣời viết: “Công cuộc Đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”. Khi nhấn mạnh sự cần thiết phải không ngừng Đổi mới nhận thức để phản ánh đúng tình hình thế giới, tình hình trong nƣớc vốn không ngừng biến đổi, Hồ Chí Minh viết: thế giới ngày ngày Đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”.
Đổi mới, theo Hồ Chí Minh, còn là để thắng sức ỳ của thói quen, của tập quán cũ. Dù đó là việc khó khăn, nhƣng chẳng có việc gì là không thể Đổi mới”. Đổi mới còn là cách để thay đổi một phƣơng thức sống, tạo lập một phƣơng thức sống mới, đáp ứng nhu cầu của sự phát triển. Về vấn đề này, Hồ Chí Minh viết: “Khi trƣớc nhà nào lo làm nhà nấy, làm thế nào cũng đƣợc.
Nhƣng bây giờ không phải nhƣ thế. Bây giờ mình phải Đổi mới nông thôn”[11] Trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, Đổi mới và phát triển là những khái niệm rất gần gũi, đôi khi đƣợc hiểu nhƣ nhau. Trong Báo cáo tại Hội nghị Chính trị đặc biệt năm 1964, Ngƣời viết: “Trong 10 năm qua, miền Bắc nƣớc ta đã tiến những bƣớc dài chƣa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nƣớc, xã hội, con ngƣời đều Đổi mới”.
Vận dụng vào vấn đề mà chúng ta nghiên cứu “Đổi mới‟ là thay cách nghĩ, cách làm cũ lạc hậu, lỗi thời, không đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển, bằng cách nghĩ, cách làm khác, tiến bộ hơn, hợp với quy luật của sự phát triển. 11 Phân tích tình hình đất nƣớc trong những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 thế kỷ XX, Đại hội VI của Đảng ta đã nhấn mạnh: Đổi mới là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Sau khi nêu nội dung Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đổi mới chính sách xã hội,… Đại hội tập trung làm nổi bật nội dung Đổi mới Đảng: Đổi mới tƣ duy, trƣớc hết là tƣ duy kinh tế; Đổi mới tổ chức; Đổi mới đội ngũ cán bộ; Đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác của Đảng. Từ đây, “Đổi mới” đƣợc sử dụng rộng rãi trong các văn kiện của Đảng, trong sách báo cũng nhƣ trong ngôn ngữ hằng ngày của nhân dân ta.
Trong 20 năm qua, nhận thức về “Đổi mới ở Việt Nam” cũng không ngừng phát triển. Thời kỳ đầu, “Đổi mới” đƣợc hiểu nhƣ là những suy nghĩ, những hành động riêng lẻ, cụ thể nhằm thay đổi một nhận thức, một cách làm nhất định nào đó; càng về sau, càng nhận thức đầy đủ hơn về “Đổi mới” – đó là vấn đề chiến lƣợc lâu dài trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; nó bao quát toàn diện, không trừ lĩnh vực nào của quá trình đó. Đổi mới là quá trình loại bỏ những gì kìm hãm và cản trở sự phát triển, tổ chức lại xã hội, đƣa vào cơ chế vận hành của xã hội một hệ thống đồng bộ các yết tố vật chất và tinh thần, tạo nên lực lƣợng cho sự phát triển vƣợt bậc. “Đổi mới” – đó là quá trình giải phóng mang ý nghĩa toàn diện của từ đó – giải phóng về tƣ tƣởng, giải phóng lực lƣợng sản xuất, giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo của con ngƣời, giải phóng khả năng trí tuệ của nhân dân,… để phục vụ cho sự phát triển con ngƣời, bảo đảm tự do, sáng tạo của nhân dân.
“Đổi mới‟ còn là quá trình sửa lại những nhận thức không đúng về “cái cũ”, nhƣng “cái cũ” ấy lại là cái đúng, để hiểu đúng nó hơn, vận dụng có hiệu quả hơn vào thực tiễn mới. “Đổi mới” còn là làm rõ cái gì là đúng của ngày hôm qua, nhƣng do hoàn cảnh đã thay đổi, ngày hôm nay không còn thích hợp, cần từ tổng kết thực tiễn để khái quát lý luận nhằm bổ sung, phát triển nhận thức, phát triển nền tảng tƣ tƣởng của chúng ta. Nhờ vậy, nền tảng tƣ tƣởng đó thực hiện có hiệu quả hơn chức năng là cơ sở hoạch định và triển khai đƣờng lối của Đảng, thúc đẩy đất nƣớc phát triển. 12 Nhƣ vậy, “Đổi mới” có mục tiêu lý luận và mục tiêu thực tiễn.
Về lý luận, Đổi mới nhằm xác lập hệ thống quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta. Về thực tiễn, Đổi mới để xã hội xã hội chủ nghĩa từng bƣớc đƣợc xác lập vững chắc. Hai mục tiêu đó có quan hệ biện chứng với nhau: Mục tiêu lý luận phục vụ cho mục tiêu thực tiễn; mục tiêu thực tiễn vừa là yêu cầu, là đòi hỏi nâng cao chất lƣợng mục tiêu lý luận, vừa là phƣơng thức kiểm tra thành quả đạt đƣợc của mục tiêu lý luận. Trong sự tác động qua lại đó, mục tiêu thực tiễn là cơ quan quan trọng nhất.
Mục tiêu lý luận và thực tiễn đó cũng khẳng định rằng, chúng ta “Đổi mới” nhƣng không “đổi mầu”. Đổi mới để giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, để làm cho chủ nghĩa xã hội đƣợc nhận thức đúng đắn hơn và đƣợc xây dựng có hiệu quả cao hơn. Đổi mới không phải là xa rời chủ nghĩa Mác-Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, mà là làm cho lý luận đó, tƣ tƣởng đó đƣợc nhận thức và vận dụng, phát triển sáng tạo hơn, mang lại kết quả thiết thực hơn. Đổi mới không phải là phủ định sạch trơn nhận thức và cách làm trƣớc đây cùng những thành tựu đã đƣợc tạo ra, mà là khẳng định những gì đã nghĩ đúng, làm đúng, giữ lại những giá trị tích cực của quá khứ, lấy đó làm tiền đề để Đổi mới, để tiến lên; đồng thời loại bỏ những gì hiểu sai, làm sai, những hậu quả do những sai sót đó tạo ra.
Cho nên, giữ vững định hƣớng xã hội chủ nghĩa trong quá trình Đổi mới là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nó giúp chúng ta tránh những sai lầm hữu khuynh cũng nhƣ “tả” khuynh. Chính quyền cấp xã - khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò 1. Khái niệm, đặc điểm của chính quyền cấp xã 1.
Chính quyền cấp xã Trong các văn chính trị, pháp lý phổ biến hiện nay đang tồn tại các thuật ngữ về chính quyền cấp xã nhƣ: chính quyền cơ sở, HĐND và UBND cấp xã. Các cách gọi này để chỉ một chủ thể quản lý nhà nƣớc, cơ quan quyền lực nhà nƣớc cấp gần với Nhân dân nhất. Chính quyền cấp xã là một chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật trong tổ chức và hoạt động của cấp chính quyền này. 13 Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, chính quyền đƣợc hiểu là: Bộ máy điều hành, quản lý công việc nhà nƣớc ở các cấp.
Quyền quản lý, điều khiển bộ máy nhà nƣớc ở các cấp. Chính quyền theo nghĩa trên gắn với từ “Trung ƣơng” là chính quyền trung ƣơng, còn gắn với từ “Địa phƣơng” là CQĐP – bộ máy quản lý, điều hành các công việc nhà nƣớc ở địa phƣơng. Theo từ điển Oxford Advanced learner‟s Dictionnary thì CQĐP là một nhóm ngƣời chịu trách nhiệm đối với việc quản lý hành chính một vùng lãnh thổ [90]. Nhƣ vậy, CQĐP ở đây đƣợc hiểu là các cơ quan nhà nƣớc ở địa phƣơng chịu trách nhiệm quản lý các công việc của địa phƣơng.
Theo Hiến pháp 2013, CQĐP ở nƣớc ta bao gồm HĐND và UBND. Trong phạm vi luận văn này, tác giả xem xét chính quyền cấp xã là một cấp của CQĐP hiểu Theo nghĩa hẹp – tức là chỉ bao gồm HĐND và UBND. CQĐP ở nƣớc ta theo Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức CQĐP 2015 đƣợc tổ chức thành 3 cấp tƣơng ứng với các đơn vị hành chính gồm cấp Tỉnh (gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng), cấp huyện (gồm huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh) và cấp xã (gồm xã, phƣờng, thị trấn). Mỗi cấp đều có HĐND và UBND.
Nhƣ vậy, chính quyền xã, chính quyền thị trấn, chính quyền địa phƣờng đều là chính quyền cơ sở. Chính quyền cấp xã là một bộ phận hợp thành của chính quyền địa phƣơng. Cũng nhƣ các cấp chính quyền địa phƣơng, chính quyền cấp xã gồm có HĐND và UBND là bộ máy nhân danh nhà nƣớc thực hiện các công việc quản lý, điều hành trong phạm vi xã, phƣờng, thị trấn. Đặc điểm của chính quyền cấp xã Xuất phát từ đặc điểm cấp xã là đơn vị hành chính lãnh thổ nhỏ nhất trong hệ thống bộ máy nhà nƣớc nên chính quyền xã có đặc điểm nhƣ sau: Một là, chính quyền xã là cấp cơ sở tiếp xúc trực tiếp với nhân dân.
Hai là, tổ chức bộ máy ở xã không giống nhƣ ở các đơn vị hành chính cấp trên, ở xã chỉ có HĐND và UBND thực hiện việc quản lý địa phƣơng, không có Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. 14 Ba là, chính quyền cấp xã gồm 3 loại: Chính quyền phƣờng (đô thị) và chính quyền xã, chính quyền thị trấn (nông thôn); một số nơi có chính quyền xã đặc thù hơn, đó là xã ở các đảo mà nghề chính không phải làm nông nghiệp mà là đánh bắt thủy sản. Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã trong bộ máy nhà nước 1. Vị trí, vai trò của HĐND.
- HĐND cấp xã: là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, vừa là một bộ phận cấu thành không thể tách rời với quyền lực Nhà nƣớc thống nhất trong cả nƣớc, với quyền làm chủ của nhân dân, vừa đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền lợi và quyền làm chủ mọi mặt của nhân dân địa phƣơng. HĐND xã có vai trò vừa là cơ quan nhà nƣớc, vừa là cơ quan dân cử thể hiện quyền tự quản ở địa phƣơng. HĐND vừa chịu trách nhiệm trƣớc nhân dân địa phƣơng, vừa chịu trách nhiệm trƣớc chính quyền cấp trên. Vị trí, vai trò của UBND.