mở đầu cho cuộc tái xâm lược Sài Gòn và Nam bộ, biến nơi đây thành "Nam kỳ Tự trị". Đến giữa năm 1948, thực dân Pháp đưa Bảo Đại lên làm Quốc trưởng, Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng của Chính phủ lâm thời Nam kỳ. Giai đọan này có một số văn bản quy định về tổ chức quản lý thành phố này như: Nghị định ngày 31/7/1947, Nghị định ngày 22/9/1947, Nghị định ngày 26/9/1947, Nghị định ngày 30/6/1951 v. của Thủ tướng Chính phủ Nam kỳ để quy định thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn là Thủ đô của Nam kỳ tự trị, quy định về tổ chức các cơ quan quyết nghị và cơ quan chấp hành của đô thành, phân chia và tổ chức các phân hạt hành chính của đô thành.
Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Dụ số 2 ngày 01/7/1949, Sắc lệnh số 105-NV ngày 27/12/1952. quy định về tổ chức các cơ quan quyết nghị và cơ quan chấp hành của Thủ đô Sài Gòn - Chợ Lớn v. Theo Sắc lệnh số 104-NV ngày 27/12/1952, 18 Hộ của Tp. Sài Gòn-Chợ Lớn trước đây được nhập lại thành 7 và đổi tên thành Quận.
Sau Hiệp định Giơ -ne-vơ năm 1954, thành phố Sài Gòn được xác định là thủ đô của Việt Nam Cộng hoà. Khác với thời thực dân Pháp đô hộ chỉ phân chia các đơn vị hành chính thành phố Sài Gòn thành các Hộ, rồi sau đó đổi thành Quận, thời chính quyền Ngô Đình Diệm (1955 - 1963) và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trước ngày giải phóng năm 1975, thành phố Sài Gòn phân chia thành 4 cấp là: Thành phố Sài Gòn (Đô thành) - Quận - Phường và Khóm. Nhưng theo Hiến pháp năm 1956 12 (thời Tổng thống Ngô Đình Diệm); Hiến pháp năm 1967 (thời Nguyễn Văn Thiệu); Sắc lệnh 74-TTP ngày 23/3/1959 về tổ chức nền hành chính Đô thành và Nghị định số 675-BNV/HCĐP/NĐ ngày 14/10/1972 về tổ chức Tòa hành chính quận; v. chỉ có cấp thành phố Sài Gòn được xác định là tập thể địa phương phân quyền, có tư cách pháp nhân, tổ chức chính quyền đầy đủ, có cả cơ quan quyết nghị (Hội đồng Đô thành) và cơ quan chấp hành (Toà hành chính Đô thành) do Đô trưởng đứng đầu.
Còn quận, phường và khóm chỉ là địa hạt hành chính, nên chỉ có cơ quan hành chính nằm trong hệ thống hành chính Đô thành. Đứng đầu các địa hạt hành chính nói trên là Quận trưởng, Phường trưởng và Khóm trưởng [56, tr. Sau ngày giải phóng miền Nam (năm 1975) thống nhất đất nước: Sau ngày giải phóng miền Nam (30 tháng 4 năm 1975), để thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, ngày 25 tháng 4 năm 1976, nhân dân cả nước đã bầu ra Quốc hội thống nhất. Quốc hội đã quyết định đặt tên nước là nước CHXHCN Việt Nam, quyết định đổi tên thành phố Sài Gòn thành thành phố Hồ Chí Minh và quyết định thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp để xây dựng bản Hiến pháp mới cho nhà nước Việt Nam thống nhất.
Trong quá trình soạn thảo Hiến pháp, vấn đề phân chia các đơn vị hành chính và tên gọi các đơn vị hành chính ở đô thị, trên cơ sở đó tổ chức các cấp chính quyền ở thành phố trực thuộc trung ương được đặt ra thảo luận nhiều lần. Vì khi đó, cả nước có 3 thành phố trực thuộc trung ương là Thủ đô Hà Nội, Tp. Hải Phòng và Tp. Hồ Chí Minh.
Nhưng Thủ đô Hà Nội và Tp. Hải Phòng chỉ có 2 cấp đơn vị hành chính ở nội thành là thành phố và khu phố. Trong khi đó, sau ngày giải phóng (30/4/1975), thời kỳ chính quyền quân quản (1975 - 1976) thành phố Sài Gòn tiếp tục duy trì 4 cấp đơn vị hành chính ở nội thành: Thành phố - Quận - Phường và Khóm, ở mỗi cấp đều tổ chức chính quyền quân quản tương ứng. Từ năm 1976, cấp Khóm được bãi bỏ và Uỷ ban nhân dân cách mạng thay thế cho các Uỷ ban quân quản.
Bắt đầu từ năm 1977, thành phố tổ chức bầu cử HĐND các cấp, trong đó có 3 cấp chính quyền ở nội thành là: cấp Thành phố, cấp Quận và cấp 13 Phường. Ở tất cả 3 cấp chính quyền này đều tổ chức HĐND và UBND. UBND cấp nào do HĐND cấp đó bầu ra. Để thống nhất phân chia các đơn vị hành chính, tên gọi các đơn vị hành chính ở các thành phố trực thuộc trung ương và thống nhất tổ chức các cấp chính quyền ở các thành phố này, Hiến pháp năm 1980 quy định: Thành phố trực thuộc trung ương chia thành Quận (ở nội thành), Huyện (ở ngoại thành); Huyện chia thành Xã và Thị trấn; Quận chia thành Phường.
Các đơn vị hành chính kể trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (Xem: Điều 113 Hiến pháp năm 1980). Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994, cũng như năm 2003 hiện hành quy định về tổ chức các cấp chính quyền địa phương, trong đó có chính quyền thành phố trực thuộc trung ương so với Hiến pháp năm 1980 về cơ bản là không thay đổi. Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 hiện hành, tổ chức chính quyền thành phố trực thuộc trung ương cũng giống như tổ chức chính quyền tỉnh (Luật "gọi chung là cấp tỉnh") gồm 3 cấp chính quyền hoàn chỉnh: Thành phố, Quận (hoặc huyện ở ngoại thành) và Phường (xã, thị trấn ở các huyện ở ngoại thành). Tất cả các cấp chính quyền nói trên đều là cấp chính quyền hoàn chỉnh, đều có HĐND và UBND.
UBND cấp nào do HĐND cấp đó bầu ra. Tổ chức chính quyền Quận trong hệ thống tổ chức chính quyền Tp. trực thuộc trung ương qua các thời kỳ lịch sử a. Tổ chức chính quyền cấp Hộ (Quận) thời Pháp thuộc: Từ năm 1861 đến năm 1867, thực dân Pháp lần lượt đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam bộ, rồi 3 tỉnh miền Tây Nam bộ, buộc triều đình nhà Nguyễn phải ký Hòa ước năm Nhâm Tuất (1962) và Hòa ước năm Đinh Mão (1867) giao 6 tỉnh Nam kỳ cho Pháp.
14 Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, để tổ chức quản lý thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn, thực dân Pháp ban hành các văn bản pháp lý khác nhau, với các cách thức tổ chức ở các thời kỳ khác nhau. Giai đọan từ 1877 đến 1931, Sài Gòn và Chợ Lớn là 2 thành phố riêng biệt, tổ chức và họat động theo những văn bản pháp lý riêng. Ngày 27 tháng 4 năm 1931, Tổng thống Pháp ban hành Sắc lệnh hợp nhất 2 thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn để thiết lập một đơn vị hành chính mới gọi là "địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn". Ngày 12 tháng 5 năm 1942, Tòan quyền Đông Dương ban hành Nghị định quy định chia "địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn" thành 18 Hộ (Quartiers), sau này được gọi là Quận.
Tổ chức chính quyền thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn gồm 2 cấp: cấp thành phố và cấp Hộ. Cấp chính quyền thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn gồm 2 thứ cơ quan: Cơ quan quyết nghị là Hội đồng quản trị Sài Gòn - Chợ Lớn và Cơ quan chấp hành là Quận trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn. Cấp Hộ: Theo Nghị định ngày 12/5/1942 của Tòan quyền Đông Dương, Tp. Sài Gòn-Chợ Lớn được chia thành 18 Hộ, do một Hộ trưởng điều khiển.
Hộ trưởng do Quận trưởng địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn bổ nhiệm. Người được bổ nhiệm làm Hộ trưởng phải là người từ 35 đến 50 tuổi, có 2 năm trở lên cư ngụ trong hộ, phải thông thạo tiếng Pháp và tiếng Việt. Trưởng Hộ thực hiện các nhiệm vụ về: Hành chính tổng quát, cảnh sát, vệ sinh, kiều lộ, thuế vụ, mộ lính, phòng thủ thụ động, tư pháp, tế tự. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, thời kỳ "Nam kỳ tự trị", Quốc trưởng Bảo Đại ban hành: Dụ số 2 ngày 01/7/1949, Sắc lệnh số 105-NV ngày 27/12/1952.
quy định về tổ chức chính quyền Thủ đô Sài Gòn-Chợ Lớn của cái gọi là "Cộng hoà 15 Nam kỳ tự trị". Theo Sắc lệnh số 104-NV ngày 27/12/1952, 18 Hộ của Tp. Sài Gòn- Chợ Lớn trước đây được nhập lại thành 7 và đổi tên thành Quận. Mỗi quận có Hội nghị quận gồm 5 hội viên bầu theo lối phổ thông, nhiệm kỳ là 3 năm.
Hội trưởng và Phó Hội trưởng do Hội nghị quận bầu trong số hội viên. Hội nghị quận có 2 tư cách: đại diện cho dân chúng của quận trong mối quan hệ với chính quyền Đô thành và chính quyền trung ương, đồng thời đại diện cho chính quyền cấp trên trong mối quan hệ với dân chúng trong quận. Khác với chính quyền cấp đô thành, quận không có tư cách pháp nhân, không có ngân sách và tài sản riêng. Theo Nghị định số 803 ngày 27/12/1952 của Thủ tướng Chính phủ Nam Việt, Hội trưởng Hội nghị quận giải quyết các vấn đề: về hành chính tổng quát, về cảnh sát, về vệ sinh, thuế vụ, về kiều lộ, về mộ lính, về phòng thủ thụ động, về tư pháp, về tế tự.
Tổ chức chính quyền Quận tại thành phố Sài Gòn (Đô thành Sài Gòn) trước ngày giải phóng 30 tháng 4 năm 1975: Tổ chức chính quyền địa phương ở Miền Nam nói chung, đô thành Sài Gòn nói riêng trước giải phóng có nhiều thay đổi, được quy định bởi nhiều văn bản pháp lý khác nhau, như: - Hiến pháp năm 1956 thời Ngô Đình Diệm; Hiến pháp năm 1967 thời Nguyễn Văn Thiệu; - Sắc lệnh 74-TTP ngày 23/3/1959 về tổ chức nền hành chính Đô thành; Sắc lệnh 67, 68 và 69-NV ngày 9/4/1965 về tổ chức các Hội đồng Đô thành, tỉnh và thị xã; Sắc lệnh số 203-đ/NV ngày 31/5/1964 ấn định tổ chức xã, ấp; và các Sắc lệnh số 190-SL/ĐUHC ngày 24/12/1966; Sắc lệnh số 061/SL/NV ngày 22/6/1971; Sắc lệnh số 120-SL/NV ngày 22/8/1972 v. liên quan đến tổ chức chính quyền địa phương; 16 - Các Nghị định số 220-NĐ/NV ngày 23/5/1972 về thay thế Quận trưởng công chức bằng sĩ quan quân đội; Nghị định số 675-BNV/HCĐP/NĐ ngày 14/10/1972 về tổ chức Tòa hành chính quận; v. Nghiên cứu các văn bản pháp lý nói trên cho thấy: chính quyền Sài Gòn tổ chức bộ máy chính quyền địa phương ở địa bàn nông thôn với địa bàn đô thị, trong đó có thành phố Sài Gòn là khác nhau: Về chính quyền Tỉnh: Tỉnh tổ chức 3 cấp, bao gồm: Tỉnh - Quận - Xã. Nhưng chỉ có Tỉnh và Xã được xác định là các "tập thể địa phương phân quyền", "có tư cách pháp nhân công pháp", có tài sản và ngân sách riêng, là cấp chính quyền đầy đủ, có Hội đồng tỉnh, hay Hội đồng xã do cử tri bầu ra và cơ quan chấp hành là Tỉnh trưởng đứng đầu Tòa hành chính tỉnh, hoặc Ủy ban hành chính xã.
Còn Quận chỉ là địa hạt hành chính, không có tư cách pháp nhân như tỉnh và xã.