Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm Việt Nam" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Hồng Nhung, dưới sự hướng dẫn của PGS. Tô Thế Nguyên tại Khoa Kinh tế Chính trị, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội (tháng 5 năm 2023). Đề tài tiếp cận vấn đề đổi mới sáng tạo (ĐMST) dưới góc độ kinh tế học ứng dụng trong bối cảnh các lợi thế cạnh tranh truyền thống của Việt Nam đang dần suy giảm.

Theo lập luận của tác giả, trong giai đoạn trước đây, tăng trưởng của doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và lực lượng lao động dồi dào, giá rẻ. Tuy nhiên, chi phí nhân công ngày càng gia tăng, tài nguyên cạn kiệt và chi phí khai thác tăng cao đòi hỏi ĐMST phải trở thành động lực phát triển then chốt nhằm gia tăng hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cho sản phẩm. Ngành chế biến thực phẩm (CBTP) giữ vị trí xung yếu trong nền kinh tế quốc dân khi chiếm khoảng 20% GDP (theo số liệu từ Action Aid, 2015) và thị trường tiêu thụ thực phẩm đóng góp khoảng 15% GDP (theo Xuân Anh, 2017). Tốc độ tăng trưởng sản lượng tiêu thụ thực phẩm chế biến đạt trung bình gần 10%/năm và ngành duy trì mức tăng trưởng ổn định xấp xỉ 7%/năm trong 5 năm gần đây.

Mặc dù quy mô thị trường đạt khoảng 100 triệu dân và GDP bình quân đầu người tăng 3,6 lần trong giai đoạn 2002–2020, ngành CBTP Việt Nam vẫn tồn tại điểm yếu cố hữu: khoảng 60% đến 70% là cơ sở sản xuất quy mô nhỏ. Trước áp lực cạnh tranh gia tăng từ quá trình hội nhập quốc tế thông qua các hiệp định như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) hay việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cùng tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, doanh nghiệp CBTP buộc phải triển khai ĐMST để tồn tại và phát triển.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể:

  1. Mục tiêu chung: Làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và tổng quan tình hình nghiên cứu về ĐMST của doanh nghiệp ngành CBTP; phân tích, đánh giá thực trạng ĐMST và tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai, thực hiện ĐMST của doanh nghiệp ngành CBTP Việt Nam; từ đó đề xuất các hàm ý chính sách và khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, nhu cầu, năng lực ĐMST và hiệu quả kinh doanh của ngành.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Mục tiêu 1: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận, thực tiễn và tình hình nghiên cứu về ĐMST của doanh nghiệp ngành CBTP.
    • Mục tiêu 2: Đánh giá thực trạng ĐMST của doanh nghiệp CBTP Việt Nam; phân tích và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai, thực hiện ĐMST trong ngành.
    • Mục tiêu 3: Đề xuất hệ thống khuyến nghị cho các nhà quản lý doanh nghiệp và các nhà hoạch định chính sách nhằm nâng cao năng lực và thúc đẩy hoạt động ĐMST.

Để giải quyết các mục tiêu trên, tác giả đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu:

  1. Tình hình ngành chế biến thực phẩm và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay như thế nào?
  2. Các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc triển khai, thực hiện đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm?
  3. Khuyến nghị nào cho nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp nhằm nâng cao nhu cầu, trách nhiệm và năng lực trong đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm?

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc triển khai, thực hiện ĐMST và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này tại các doanh nghiệp CBTP Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian bao quát trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam; phạm vi thời gian thực hiện nghiên cứu được xác định từ ngày 01/03/2023 đến ngày 10/05/2023.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, khóa luận hệ thống hóa khái niệm ĐMST khởi nguồn từ công trình của Schumpeter (1934), nhấn mạnh tính mới ở đầu ra (sản phẩm mới, phương pháp sản xuất mới, thị trường mới, nguồn nguyên liệu mới hoặc cơ cấu tổ chức mới). Tác giả tổng hợp thêm các góc nhìn của Ủy ban châu Âu (EC, 1995), Luke (2004), Harvard Business Essentials (2003), Nguyễn Thị Lệ Thủy và Nguyễn Thị Hồng Minh (2012), Cẩm nang Oslo (OECD, 2005) và căn cứ pháp lý tại Khoản 16 Điều 3 Luật Khoa học và Công nghệ 2013 của Việt Nam. Về mặt phân loại, công trình trình bày ĐMST theo loại hình (sản phẩm, quy trình, tổ chức, marketing theo chuẩn OECD), theo tính chất (ĐMST hành chính tổ chức và ĐMST kỹ thuật), và theo cấp độ (ĐMST nâng cao và ĐMST triệt để/đột phá). Khái niệm công nghệ được liên hệ theo mô hình của Phan Anh Tú (2006) gồm bốn thành phần: Kỹ thuật (Technoware), Con người (Humanware), Thể chế tổ chức (Orgaware) và Dữ liệu (Inforware).

Về ngành CBTP, nghiên cứu phân định rõ hai giai đoạn: sơ chế bảo quản nguyên liệu sau thu hoạch và chế biến công nghiệp tại xí nghiệp. Ngành được phân chia thành 8 phân ngành cấp 3: (1) Chế biến, bảo quản thịt và sản phẩm từ thịt; (2) Chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản; (3) Chế biến và bảo quản rau quả; (4) Sản xuất dầu, mỡ động, thực vật; (5) Chế biến sữa và sản phẩm từ sữa; (6) Xay xát và sản xuất bột; (7) Sản xuất thực phẩm khác; (8) Sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản.

Khung phân tích nghiên cứu xác lập các nội dung ĐMST gồm công nghệ sản xuất gắn với Cách mạng công nghiệp 4.0 và ứng dụng hệ thống phần mềm công nghệ thông tin (IT). Đồng thời, mô hình tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng bên trong (chiến lược, sự ủng hộ của lãnh đạo, nguồn lực tài chính, năng lực hấp thụ, văn hóa tổ chức, áp lực từ công ty mẹ) và các yếu tố bên ngoài (sự liên kết giữa doanh nghiệp với viện/trường/chính quyền và thể chế, chính sách).

Phương pháp và Dữ liệu Chi tiết áp dụng trong khóa luận
Phương pháp tiếp cận Nghiên cứu định lượng thực nghiệm thuần túy; không sử dụng nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu, chuyên gia) do giới hạn thời gian và nguồn lực.
Nguồn dữ liệu thứ cấp Bộ số liệu "Điều tra doanh nghiệp năm 2020 của Tổng cục Thống kê" thu thập theo Quyết định số 1193/QĐ-TCTK ngày 30/7/2019 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê.
Quy mô mẫu phân tích $N = 145$ doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm (được sàng lọc thông qua mã ngành kinh doanh).
Quy trình xử lý dữ liệu Xử lý, mã hóa và làm sạch bước đầu bằng phần mềm Microsoft Excel; phân tích định lượng chuyên sâu trên phần mềm STATA 14.
Phương pháp phân tích - Thống kê mô tả (số tuyệt đối, số tương đối, cơ cấu, tỷ trọng).
- Thống kê so sánh theo đặc thù phân nhóm doanh nghiệp.
- Mô hình hồi quy đa biến logistic / probit tổng quát (dựa trên cơ sở lý thuyết của Amemiya, 1981 và Maddala, 1991).

Mô hình xác suất được xây dựng nhằm đánh giá tác động của các yếu tố đến biến phụ thuộc $y_i$ ($y_i = 1$ nếu doanh nghiệp có triển khai ĐMST, $y_i = 0$ nếu không triển khai), chịu tác động của 9 nhóm nhân tố thực nghiệm: nền tảng công nghệ thông tin của lao động, bảo mật lưu trữ dữ liệu nội bộ, bảo mật thông tin trao đổi dữ liệu với đối tác kinh doanh, tỷ lệ lao động sơ cấp, tỷ lệ lao động đại học và trên đại học, sức ép cạnh tranh trong 1–2 năm tới, rào cản chi phí quá đắt đỏ và rào cản năng lực hạn chế.


Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA DOANH NGHIỆP NGÀNH CHẾ BIẾN THỰC PHẨM

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về ĐMST, phân tích vai trò của ngành CBTP trong việc gia tăng giá trị nông sản từ 4 đến 10 lần sau tinh chế, tạo việc làm và giải quyết đầu ra cho nông nghiệp. Tác giả đi sâu vào nội dung ĐMST kỹ thuật và quản trị thông qua việc phân tích hai trụ cột:

  • Đổi mới công nghệ sản xuất thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0: Gồm 9 nhóm công nghệ nền tảng: điện toán đám mây (Google Apps, Microsoft Office 365), robot tiên tiến, công nghệ chế tạo đắp dần (in 3D), công nghệ thực tế tăng cường (AR), công nghệ mô hình hóa chuỗi giá trị, Internet kết nối vạn vật (IoT), an ninh mạng, phân tích dữ liệu lớn (Big Data) và tích hợp các hệ thống (tiêu chuẩn mở JDF, CxF).
  • Đổi mới hệ thống phần mềm IT: Gồm 9 hệ thống quản trị tác nghiệp: Hệ thống thực hành sản xuất (MES), Lập kế hoạch nguồn lực doanh nghiệp (ERP), Quản lý vòng đời sản phẩm (PLM), Quản lý dữ liệu sản phẩm (PDM), Lập kế hoạch sản xuất (PPS), Thu thập dữ liệu sản xuất (PDA), Thu thập dữ liệu máy móc (MDC), Thiết kế có sự hỗ trợ của máy tính (CAD) và Quản lý chuỗi cung ứng (SCM).

Trong phần cơ sở thực tiễn, tác giả tổng hợp kinh nghiệm từ các quốc gia dẫn đầu về ĐMST:

  • Về đầu tư R&D: Tỷ lệ chi cho R&D so với GDP của Israel đạt 5,4% (dẫn đầu thế giới), Hàn Quốc đạt 4,8% (năm 2021), Trung Quốc đạt 515 tỷ USD tương đương 2,2% GDP (năm 2019). Trong khi đó, năm 2017 Việt Nam mới đạt 0,53% GDP, và tỷ lệ chi R&D của doanh nghiệp Việt Nam so với GDP chỉ đạt 0,4%. Tỷ lệ đơn đăng ký sáng chế nội địa của Việt Nam năm 2020 chỉ đạt 13%, cách xa mức 70%–90% của Thụy Sĩ, Trung Quốc, Hàn Quốc.
  • Về các chính sách đòn bẩy: Kinh nghiệm mở rộng đại học nghiên cứu tại Trung Quốc và Singapore; công cụ mua sắm công thúc đẩy ĐMST (chính sách ưu tiên định giá cao hơn 25% của Brazil, dành 10% ngân sách mua sắm DNNVV cho công nghệ mới của Hàn Quốc, các hợp đồng thương mại của NASA tài trợ cho SpaceX tại Mỹ, dự án hộ chiếu điện tử của IRIS Group tại Malaysia từ năm 1998); xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp (quỹ Antler tại Singapore, Thung lũng Silicon tại Mỹ, 67.899 đơn sáng chế năm 2016 tại Đức); và liên kết quốc tế (chương trình Scalerator giữa Enterprise Singapore, EDB và GASEA).

Từ các bài học thực tiễn, tác giả đúc kết 9 nhóm khuyến nghị cho Việt Nam. Phần tổng quan tài liệu lược khảo chi tiết 13 nghiên cứu quốc tế (Earle, 1997; Lopez và cộng sự, 2004; Bratskas và cộng sự, 2007; Ma & McSweeney, 2008; Guijarro-Madrid và cộng sự, 2009; Saatcioglu & Ozmen, 2010; Baldwin & Lin, 2002; Buse và cộng sự, 2014; Gupta và cộng sự, 2014; Thong, 2015; Ueasangkomsate, 2017; Bivona & Cruz, 2021; Mukhamad Najib và cộng sự, 2021) và 6 nghiên cứu trong nước (Phùng Xuân Nhạ & Lê Quân, 2013; Hồ Ngọc Luật & Phạm Thế Dũng, 2018; Lê Thị Mỹ Linh, 2018; Vũ Hồng Tuấn, 2020; Nguyễn Thị Vân Anh & Nguyễn Khắc Hiếu, 2021; Đỗ Văn Huân & Đinh Thị Thủy, 2022). Qua đó, khóa luận xác định khoảng trống: thiếu các nghiên cứu định lượng phân tích tác động trực tiếp của các yếu tố nguồn lực, rào cản công nghệ và bảo mật đến việc triển khai ĐMST trong phân ngành CBTP tại Việt Nam.

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 mô tả tường minh quy trình nghiên cứu 6 bước: (1) Xác định vấn đề nghiên cứu; (2) Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận; (3) Thiết kế nghiên cứu; (4) Thu thập dữ liệu; (5) Nghiên cứu định lượng (thống kê và hồi quy); (6) Hoàn thiện chính thức.

Tác giả giải thích phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ cuộc điều tra doanh nghiệp năm 2020 của Tổng cục Thống kê, trích lọc 145 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành CBTP. Dữ liệu được đưa vào STATA 14 để ước lượng mô hình xác suất dạng logit/probit theo phương trình: $$y_i = \beta_0 + \beta_j x_{ij} + \varepsilon_i$$ Trong đó, các biến độc lập đại diện cho năng lực công nghệ thông tin nội bộ của người lao động, các biện pháp an toàn bảo mật dữ liệu, cơ cấu trình độ học vấn của lực lượng lao động (lao động sơ cấp, cử nhân và sau đại học), áp lực thị trường cạnh tranh và các rào cản chi phí, năng lực của doanh nghiệp.

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày bức tranh phát triển của ngành CBTP Việt Nam qua 4 giai đoạn lịch sử:

  • Giai đoạn trước năm 1858: Nông nghiệp tự cung tự cấp, chế biến dừng lại ở sơ chế thô và bảo quản giản đơn.
  • Giai đoạn 1858–1954: Thời kỳ Pháp thuộc hình thành máy móc chế biến phục vụ khai thác thuộc địa và các làng nghề truyền thống (bún, chả, giò, nem); sau năm 1945, Sắc lệnh số 79 ngày 14/11/1945 thành lập Bộ Canh nông; xuất hiện các cơ sở sản xuất công nghiệp đầu tiên như Nhà máy Rượu Hà Nội, Nhà máy Bia Hà Nội, Nhà máy Xay Hải Phòng.
  • Giai đoạn 1954–1960: Miền Bắc xây dựng cơ sở vật chất, phát triển các nhà máy chế biến với sự trợ giúp của Liên Xô và Đông Âu (Khu công nghiệp Cao-Xà-Lá, Nhà máy đồ hộp Hạ Long, sản xuất mì chính) ở mức cơ khí bán tự động.
  • Giai đoạn 1975–1986: Khủng hoảng kinh tế sau chiến tranh; Đại hội Đảng triển khai ba chương trình kinh tế lớn (lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu); năm 1987 sáp nhập Bộ Nông nghiệp, Bộ Lương thực và Bộ Thực phẩm thành Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
  • Thời kỳ Đổi mới đến nay: Chuyển mình từ nước nhập khẩu lương thực (nhập 450 ngàn tấn năm 1988) thành nước xuất khẩu gạo từ năm 1989; đến cuối năm 2006 có 9 mặt hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Tác giả dẫn chứng chính sách tín dụng hỗ trợ giảm tổn thất nông nghiệp theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn trong 2 năm đầu.

Kết quả xử lý mẫu 145 doanh nghiệp CBTP được hệ thống qua 31 bảng thống kê:

  • Cơ cấu mẫu theo địa bàn tỉnh (Bảng 3.1) và theo mã ngành chi tiết (Bảng 3.2).
  • Tình hình triển khai chiến lược CMCN 4.0 và mức độ ứng dụng 9 công nghệ mũi nhọn (Bảng 3.3 đến Bảng 3.13), tập trung vào điện toán đám mây, robot, in 3D, AR, IoT, an ninh mạng và tích hợp dữ liệu.
  • Mức độ thâm nhập của công nghệ thông tin trong quản trị nội bộ và an toàn thông tin (Bảng 3.14 đến Bảng 3.15).
  • Tỷ lệ ứng dụng thực tế của 9 hệ thống phần mềm chuyên dụng (Bảng 3.16 đến Bảng 3.24: MES, ERP, PLM, PDM, PPS, PDA, MDC, CAD, SCM).
  • Đánh giá định lượng tác động của ĐMST đến sức ép cạnh tranh (Bảng 3.25), lợi nhuận doanh nghiệp (Bảng 3.26), tổ chức sản xuất kinh doanh (Bảng 3.27) và cơ cấu biến động việc làm trong ngắn hạn 1–2 năm và dài hạn sau 3 năm (Bảng 3.28 đến Bảng 3.30).
  • Bảng thống kê mô tả các biến và kết quả kiểm định mô hình hồi quy đa biến (Bảng 3.31) làm rõ mức độ tương quan giữa năng lực nhân sự, an toàn dữ liệu, rào cản chi phí và xác suất ra quyết định ĐMST.

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ VÀ HẠN CHẾ

Trên cơ sở kết quả phân tích định lượng, Chương 4 đưa ra hai nhóm giải pháp:

  • Khuyến nghị đối với nhà quản trị doanh nghiệp CBTP: Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, chuẩn hóa hệ thống phần mềm quản trị (đặc biệt là ERP, MES, SCM); đào tạo nâng cao kỹ năng số cho lao động hiện hành; thiết lập quy trình bảo mật lưu trữ và trao đổi dữ liệu với đối tác; chủ động xây dựng quỹ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm.
  • Khuyến nghị đối với các nhà hoạch định chính sách: Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và chính sách ưu đãi tài chính, thuế, tín dụng cho hoạt động R&D; thúc đẩy các chương trình hỗ trợ chuyển giao công nghệ từ các trường đại học, viện nghiên cứu đến doanh nghiệp chế biến; triển khai sàn giao dịch khoa học công nghệ minh bạch; tận dụng mua sắm công làm động lực kích cầu sản phẩm ĐMST nội địa.
  • Hạn chế đề tài và định hướng tương lai: Tác giả thẳng thắn chỉ ra các giới hạn nghiên cứu về quy mô mẫu, dữ liệu cắt ngang năm 2020 và việc thiếu vắng điều tra định tính; từ đó gợi mở định hướng mở rộng dữ liệu mảng thời gian và phân tích đa chiều cho các công trình tiếp theo.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã lượng hóa được thực trạng tiếp cận công nghệ và rào cản đổi mới sáng tạo trong ngành CBTP tại Việt Nam dựa trên bộ dữ liệu khảo sát chính thức của Tổng cục Thống kê:

  • Bối cảnh thực chứng: Chỉ ra sự tụt hậu về đầu tư ĐMST của doanh nghiệp Việt Nam so với khu vực khi tổng chi R&D quốc gia chỉ đạt 0,53% GDP (năm 2017), chi tiêu R&D của khu vực doanh nghiệp chỉ ở mức 0,4% GDP, và tỷ lệ sáng chế nội địa đạt mức thấp 13% năm 2020.
  • Đánh giá mức độ số hóa: Phản ánh bức tranh chi tiết về tỷ lệ sử dụng công nghệ CMCN 4.0 và mức độ thâm nhập của 9 nhóm phần mềm quản trị chuyên biệt (từ thiết kế CAD, quản lý vòng đời PLM đến điều hành chuỗi cung ứng SCM) trong mẫu 145 doanh nghiệp chế biến thực phẩm.
  • Kiểm định mô hình kinh tế lượng: Chứng minh bằng mô hình hồi quy logistic mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa nền tảng công nghệ thông tin của lao động, tỷ lệ nhân lực có trình độ đại học/sau đại học, giải pháp an ninh dữ liệu đối với xác suất quyết định triển khai ĐMST của doanh nghiệp; đồng thời chỉ ra rào cản chi phí quá đắt đỏ và hạn chế năng lực nội bộ là các trở ngại lớn nhất.

Về mặt đóng góp:

  • Đóng góp lý luận: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận đa chiều về ĐMST công nghệ và ĐMST quản trị trong ngành CBTP; tổng hợp các bài học quốc tế điển hình và phân tích có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để định vị khoảng trống tri thức.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp bằng chứng định lượng từ mẫu khảo sát đại diện của Tổng cục Thống kê, giúp các doanh nghiệp nhận diện các điểm nghẽn về nhân lực và công nghệ; đồng thời cung cấp luận cứ thực tiễn cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thiết kế chính sách hỗ trợ tín dụng, công nghệ và phát triển hệ sinh thái ĐMST.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện triển khai:

  • Về phương pháp nghiên cứu: Do giới hạn về nguồn lực và thời gian thực hiện đề tài (chỉ diễn ra từ ngày 01/03/2023 đến ngày 10/05/2023), tác giả chỉ áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trên nguồn số liệu thứ cấp mà không thực hiện được các phương pháp định tính như phỏng vấn sâu lãnh đạo doanh nghiệp hay lấy ý kiến chuyên gia đầu ngành để đào sâu các cơ chế tâm lý và văn hóa tổ chức.
  • Về dữ liệu: Mẫu nghiên cứu dừng lại ở 145 doanh nghiệp CBTP được lọc ra từ cuộc Điều tra doanh nghiệp năm 2020 của Tổng cục Thống kê, mang tính chất dữ liệu thời điểm (cross-sectional data), chưa phản ánh được biến động của ĐMST theo chuỗi thời gian dài hạn sau đại dịch Covid-19.

Hướng nghiên cứu trong tương lai được tác giả xác định là mở rộng quy mô mẫu khảo sát, kết hợp song song phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (định lượng kết hợp định tính) và theo dõi dữ liệu bảng (panel data) để đánh giá tác động trễ của các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với hiệu quả ĐMST của doanh nghiệp.


Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Quản trị kinh doanh: Có thể tham khảo phương pháp luận chuẩn hóa về đo lường ĐMST theo tiêu chuẩn OECD Oslo Manual, cách phân loại công nghệ sản xuất thời kỳ 4.0 và mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng.
  • Người làm nghiên cứu định lượng: Đáng tham khảo ở kỹ thuật sàng lọc, xử lý dữ liệu điều tra doanh nghiệp cấp quốc gia của Tổng cục Thống kê và phương pháp ứng dụng mô hình xác suất tuyến tính/hồi quy logistic, probit trên phần mềm STATA 14 (Chương 2).
  • Nhà quản trị doanh nghiệp thực phẩm: Cung cấp danh mục kiểm tra cụ thể về 9 công nghệ CMCN 4.0 và 9 hệ thống phần mềm điều hành sản xuất, giúp nhận diện các lỗ hổng về an toàn thông tin và cơ cấu lao động để nâng cao năng lực cạnh tranh.
  • Cán bộ hoạch định chính sách: Cung cấp cái nhìn bao quát về lịch sử chính sách nông nghiệp - công nghiệp chế biến từ năm 1945 đến nay và hiệu quả thực thi các chính sách tín dụng ưu đãi (Quyết định 68/2013/QĐ-TTg).

Câu hỏi thường gặp

1. Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu là bao nhiêu và dữ liệu được trích xuất từ nguồn nào?
Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu gồm 145 doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm. Nguồn dữ liệu là bộ số liệu thứ cấp từ cuộc "Điều tra doanh nghiệp năm 2020 của Tổng cục Thống kê", được thực hiện theo Quyết định số 1193/QĐ-TCTK ngày 30 tháng 7 năm 2019 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê.

2. Đề tài khảo sát những công nghệ Cách mạng công nghiệp 4.0 và phần mềm IT cụ thể nào?
Nghiên cứu phân tích 9 công nghệ CMCN 4.0: Điện toán đám mây, Robot tiên tiến, Công nghệ chế tạo đắp dần (in 3D), Thực tế tăng cường (AR), Công nghệ mô hình hóa, Internet kết nối vạn vật (IoT), An ninh mạng, Ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data) và Tích hợp các hệ thống. Về phần mềm IT, khảo sát 9 hệ thống: MES, ERP, PLM, PDM, PPS, PDA, MDC, CAD và SCM.

3. Quá trình phát triển ngành chế biến thực phẩm Việt Nam được chia thành các giai đoạn nào?
Khóa luận chia lịch sử ngành thành 4 giai đoạn chính trước Đổi mới và giai đoạn Đổi mới đến nay:

  • Giai đoạn 1: Trước năm 1858 (nông nghiệp tự cung tự cấp, chế biến thô sơ).
  • Giai đoạn 2: Từ năm 1858 đến 1954 (thời kỳ Pháp thuộc và kháng chiến chống Pháp, ra đời Bộ Canh nông năm 1945).
  • Giai đoạn 3: Từ năm 1954 đến 1960 (xây dựng cơ sở chế biến ở miền Bắc với công nghệ cơ khí bán tự động).
  • Giai đoạn 4: Từ năm 1975 đến 1986 (sau thống nhất, thực hiện ba chương trình kinh tế lớn, sáp nhập lập Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm năm 1987); tiếp nối là thời kỳ Đổi mới từ 1986 đến nay.

4. Mô hình kinh tế lượng nào được tác giả lựa chọn để phân tích các yếu tố tác động đến ĐMST?
Tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến logistic / probit tổng quát (dựa trên cơ sở nghiên cứu của Amemiya, 1981 và Maddala, 1991), trong đó biến phụ thuộc là xác suất triển khai ĐMST ($y_i = 1$ nếu có, $0$ nếu không), được xử lý và ước lượng thông qua phần mềm STATA 14.

5. Vì sao nghiên cứu không kết hợp phỏng vấn sâu hoặc lấy ý kiến chuyên gia?
Theo trình bày của tác giả ở Chương 2, do giới hạn về nguồn lực và thời gian thực hiện đề tài tương đối ngắn (từ ngày 01/03/2023 đến ngày 10/05/2023), nghiên cứu chỉ tập trung khai thác phương pháp định lượng từ nguồn số liệu thứ cấp sẵn có mà không thể tiến hành các phương pháp định tính bổ trợ.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Hồng Nhung là công trình nghiên cứu thực nghiệm công phu, giải quyết trọn vẹn mục tiêu đánh giá thực trạng và nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đổi mới sáng tạo trong ngành chế biến thực phẩm Việt Nam. Thông qua việc kết hợp chặt chẽ giữa khung lý luận của kinh tế học đổi mới sáng tạo và dữ liệu điều tra thực tế của Tổng cục Thống kê trên 145 doanh nghiệp, tác giả đã làm rõ các điểm nghẽn về công nghệ, an toàn thông tin và chất lượng nguồn nhân lực. Những hàm ý chính sách và khuyến nghị quản trị được đề xuất từ đề tài mang giá trị ứng dụng thiết thực, góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch mô hình phát triển của ngành chế biến thực phẩm Việt Nam theo hướng hiện đại và bền vững.