mở đầu cho một giải pháp nào đó khác với các giải pháp đã triển khai. ĐMST cũng được định nghĩa là “việc áp dụng những ý tưởng mới vào tổ chức”. Theo chuẩn của Tổ chức Hop tác và Phát triển Kinh tế đưa ra định nghĩa về đổi mới sáng tạo trong Câm nang Oslo 2005 (OECD, 2005): “ĐMST là việc thực thi một sản phẩm (hàng hóa/ dịch vụ) hoặc một quy trình mới hoặc được cải tiến đáng kể, một phương pháp marketing mới, hay một biện pháp mới mang tính tô chức trong thực tiễn hoạt động, trong tổ chức công việc hay trong quan hệ với bên ngoài”. Theo khoản 16 Điều 3 Luật khoa học và công nghệ 2013, “DMST được hiểu là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản pham, hang hóa”.
DMST không chỉ năm trong tư duy mà còn bao gồm cả việc ứng dụng tư duy đó vào thực tế. ĐMST được hiểu là việc giới thiệu và áp dụng các sản phẩm, công nghệ, quy trình kinh doanh, mô hình kinh doanh và ý tưởng mới trên thị trường. Thời gian qua, chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách nhằm hỗ trợ DNNVV trong đó có những chính sách liên quan đến ĐMST, tiếp cận chuỗi giá trị (OECD, 2021). Nhìn chung, các khái niệm đều cho thấy, DMST liên quan đến sự thay đổi và tính mới.
Tính mới này có thé là mới đối với công ty (sự đổi mới có thé đã được thực hiện bởi các công ty khác nhưng nó là mới đối với công ty), mới đối với thị trường (khi DN là người dau tiên giới thiệu sự đôi mới trên thị trường của mình) và mới đối với thế giới (khi DN là người đầu tiên giới thiệu sự déi mới cho tat cả tat cả các thị trường và các ngành công nghiệp) (OECD, 2010). Bên cạnh đó, DMST có thé mang ca khía cạnh công nghệ và phi công nghệ (mô hình kinh doanh, marketing. ĐMST có mối quan hệ mật thiết với đổi mới công nghệ. Theo Phan Anh Tú (2006) công nghệ hàm chứa trong: kỹ thuật (Technoware-T) dưới dang công cụ, thiết bị máy móc, dây chuyền sản xuất, v.v, có ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và thé hiện góc độ kỹ thuật; con người (Humanware — H) bao gồm kiến thức, kinh 16 nghiệm, kỹ năng, sự sáng tạo, v.v, có ảnh hưởng đến khả năng hợp tác, đạo đức lao động; khung thé chế dé xây dựng cấu trúc tổ chức (Orgaware-O) là những quy định về trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, sự bồ trí sắp xếp nhân sự gắn VỚI công việc; các di liệu (Inforware — I), bao gồm các dữ liệu về phần kỹ thuật, về con người và tổ chức.
Đổi mới sáng tạo không bị hạn chế trong lĩnh vực hàng hóa vì rất nhiều sự sáng tạo đổi mới đi lên từ các ngành dịch vụ. Ngay cả những loại dịch vụ công không tạo ra lợi nhuận như y tẾ, giáo dục và trật tự xã hội nếu có được những sáng tạo và đôi mới cũng tạo ra giá trị và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của hàng triệu người. b, Phân loại Theo Nguyễn Thị Lệ Thủy và Nguyễn Thị Hồng Minh (2012), đổi mới sáng tao có thé được phân loại theo một số tiêu chí khác nhau, có thé theo tính chat, theo độ sâu hoặc theo lĩnh vực đôi mới sáng tạo. Theo loại hình ĐMST: Trong hướng dẫn OECD Oslo Manual (2005), ĐMST được phân loại thành 4 loại hình: ĐMST sản phẩm, quy trình hoạt động, hệ thống quản lý và DMST về các hoạt động marketing.
Đổi mới sản phẩm là việc giới thiệu một sản phẩm mới hoặc được cải tiến đáng kế đối với các đặc tính hoặc mục dich sử dụng của nó. Điều này bao gồm những cải tiến đáng ké trong các chi tiết kỹ thuật, các thành phan và nguyên liệu, phần mềm tích hợp, tính thân thiện với người sử dụng hoặc các đặc tính chức năng khác. ° Đổi mới quy trình là việc thực hiện phương pháp sản xuất hoặc phương thức phân phối mới hoặc được cải tiễn đáng kể. Điều này bao gồm những thay đổi đáng ké về kỹ thuật, thiết bị hoặc phần mềm.
° Đôi mới tổ chức bao gồm việc thực hiện một phương pháp tổ chức mới trong thực tiễn kinh doanh của DN, cơ cấu lại tổ chức hoặc quan hệ với bên ngoài. ° Đổi mới marketing là việc thực hiện một phương pháp marketing mới liên quan đến sự thay đổi đáng ké trong thiết kế sản phẩm hoặc bao bi, nơi bán sản phẩm, quảng bá sản phẩm hoặc giá cả của sản pham. Theo tinh chất ĐMST: 17 PMST bao gồm ĐMST hành chính tổ chức (administrative innovation) và DMST kỹ thuật (technical innovation). DMST hành chính tổ chức là việc hoàn thiện hoặc làm biến đồi co cau tổ chức hoặc các quy trình hành chính của doanh nghiệp.
° DMST kỹ thuật là việc cải thiện hoặc làm tốt hơn những sản phẩm, dịch vụ, các quá trình hay tạo ra những sản phẩm, dịch vụ và quá trình mới hoản toàn về chất. Theo cấp độ ĐMST: ĐMST bao gồm đổi mới nâng cao (incremental innovation) và đổi mới triệt để hay còn gọi là đổi mới đột phá (radical innovation). ° Đổi mới nâng cao là khai thác các hình thức hay công nghệ hiện tai nhằm mục dich cải thiện những sản pham/dich vụ hay quy trình hiện hữu. ° Đổi mới triệt dé liên quan đến phát triển các sản pham/dich vụ với những giá trị cốt lõi mới hon han những giá trị cốt lõi hiện tai.
Chế biến thực phẩm a, Khái niệm Chế biến thực phẩm là một bộ phận của ngành công nghiệp, sử dụng phan lớn nguyên liệu do nông nghiệp cung cấp đề chế biến thành những sản phẩm công nghiệp có giá trị [1, tr. Trong Hệ thống Tài khoản Quốc gia, phân loại toàn bộ hoạt động sản xuất ra làm ba nhóm ngành lớn: công nghiệp khai thác; công nghiệp chế biến, và những ngành dịch vụ (sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước) [2, tr. Trong đó, CBTP là phân ngành của ngành CNCB. Như vậy, ta có thé hiểu Chế thực phẩm là một bộ phận của ngành công nghiệp chế biến, dùng nguyên liệu nông nghiệp, thực hiện các hoạt động bảo quản, giữ gìn, cải biến và nâng giá trị sử dụng của các sản phẩm của nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu câu thị trường, tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm của nông nghiệp dem lại hiệu quả kinh té cao.
Chế biến thực phẩm gồm hai giai đoạn: 18 - Giai đoạn 1: Sơ chế bảo quản. Giai đoạn này được tiễn hành ngay sau khi thu hoạch, nằm ngoài xí nghiệp chế biến, chủ yếu sử dụng lao động thủ công với phương tiện bảo quản và vận chuyền chuyên dùng. Giai đoạn này quyết định mức độ ton thất sau thu hoạch và chất lượng nguyên liệu đưa đến xí nghiệp chế biến. Đây là giai đoạn quan trọng có ý nghĩa xác định thứ hạng sản phẩm ở giai đoạn sau, bao gồm những công việc cụ thé như phơi say, lựa chon, lưu kho.
- Giai đoạn 2: Chế biến công nghiệp. Giai đoạn này diễn ra trong các xí nghiệp chế biến. Nó sử dụng lao động kỹ thuật cùng với máy móc, thiết bị công nghệ cần thiết. Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định mức độ chất lượng sản phẩm chế biến và mức độ tăng giá trị của sản phẩm.
b, Phân loại Phân loại ngành chế biến thực phẩm chủ yếu dựa trên nguồn gốc của sản pham được chế biến. Chế biến thực phâm ở Việt Nam gồm 8 nhóm phân ngành chính (ngành cấp 3) là: - Chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt. - Chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản. - Chế biến và bảo quản rau quả.
- Sản xuất dầu, mỡ động, thực vật. - Chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa. - Xay xát và sản xuất bột. - Sản xuất thực phâm khác.
- Sản xuất thức ăn gia súc, gia cam và thuỷ sản. Vai trò của ngành chế biến thực phẩm Ngành chế biến thực phẩm có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xã hội. Thứ nhất, trong đời sống xã hội, ngành chế biến thực phẩm cung cấp các nhu cầu thiết yếu về ăn, uống cua con người. Nhat la trong xã hội hiện đại, thực phẩm cần đủ dinh dưỡng giúp con người phục hồi nhanh sức lao động, duy trì quá trình tái sản xuất của xã hội, thuận tiện cho sinh hoạt hằng ngày.
Ngoài ra, những sản phẩm của ngành chế biến thực phâm còn giúp người nội trợ thoát khỏi cảnh bếp núc cổ truyền. 19 Thứ hai, sự phát trién của ngành CBTP có vai trò rất quan trọng không chỉ với bản thân ngành công nghiệp mà đặc biệt đối với phát triển của nông nghiệp, nông thôn: thúc đây nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, hình thành các vùng thâm canh, sản xuất tập trung, chuyên dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn và tạo điều kiện quan trọng cho thúc đây CNH HĐH nông nghiệp, nông thôn. Thông qua chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp tăng lên gấp nhiều lần. Theo tính toán của các chuyên gia trong ngành, sau khi tinh chế, giá trị của nông sản có thé tăng từ 4 đến 10 lần so với giá trị trước khi chế biến (3, tr.
Mặt khác, qua chế biến, từ một sản phẩm nông nghiệp, có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm rất khác nhau, thậm chí tạo ra những đặc tính mới, những giá trị sử dụng mới cho sản phẩm nông nghiệp, từ đó đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân và là nguồn xuất khâu quan trọng, đây mạnh giao lưu hàng hoá với các nước, đóng góp không nhỏ cho ngân sách Nhà nước. Thứ ba, phát triển ngành CBTP góp phan rat quan trọng vào việc giải quyết van đề việc làm cho lực lượng lao động ở nông thôn, đặc biệt là qua việc phát triển hệ thống các cơ sở chế biến ngay tại nông thôn. Từ đó, làm tăng thu nhập cho dân cư. Ở khía cạnh khác, chính ngành CBTP tao ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, lam giảm sự phụ thuộc của yếu tố thời gian, thời vụ và khoảng cách đối với tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp.
Sự phát triển của CBTP còn làm tăng nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp, từ đó tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển mạnh mẽ hơn. Thứ tư, phát trién ngành CBTP góp phan nâng cao tiềm lực của nền kinh tế, tao ra cơ cau kinh tế có khả năng cạnh tranh cao hon do phát huy được lợi thế so sánh của đất nước.