Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA DOANH NGHIỆP 1. Các công trình nghiên cứu về đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài Một trong những nghiên cứu tiên phong về ĐMST nói chung và ĐMST của DN nói riêng là những tác phẩm của nhà kinh tế học người Áo Joseph A. Schumpeter được biết đến với những đóng góp to lớn của ông cho lý thuyết kinh tế trong lĩnh vực đổi mới và khởi nghiệp.
Ông lập luận rằng thay đổi kinh tế xoay quanh sự đổi mới, hoạt động kinh doanh và sức mạnh thị trường. Những thay đổi cơ bản trong một nền kinh tế năng động là do các cải tiến kỹ thuật trong quá trình sản xuất hay rộng hơn là sự kết hợp mới của các yếu tố trong “dòng luân chuyển của đời sống kinh tế” như tiêu dùng, các yếu tố và phương tiện sản xuất, lao động, giá trị, giá cả, chi phí, trao đổi (Schumpeter, 1934). Schumpeter cũng tìm cách chứng minh rằng sức mạnh thị trường bắt nguồn từ sự đổi mới có thể mang lại kết quả tốt hơn so với bàn tay vô hình và sự cạnh tranh về giá. Nghiên cứu của Schumpeter về đổi mới sáng tạo (ĐMST) nhấn mạnh vai trò của tín dụng trong phát triển kinh tế, phân phối thu nhập, hình thành vốn và thúc đẩy ĐMST.
Ông cho rằng tín dụng ngân hàng, với mục tiêu lợi nhuận, giúp dịch chuyển nguồn lực sản xuất sang các sáng kiến mới. Schumpeter nhận định rằng phát triển là quá trình đưa sáng kiến vào sản xuất, tuy nhiên có thể trải qua giai đoạn hấp thụ, điều chỉnh hoặc suy thoái. Lợi nhuận từ bùng nổ và thua lỗ từ suy thoái đều là một phần của quá trình phát triển (Schumpeter, 1934). Một ví dụ điển hình về hoạt động khảo sát, thu thập thông tin và báo cáo về ĐMST của DN một cách khoa học và có hệ thống là chương trình đo lường đổi mới của Canada.
Từ năm 2009, Council of Canadian Academies (2009) thường xuyên thực hiện khảo sát về ĐMST của DN tại Canada (Statistics Canada’s Survey 7 of Innovation) và cung cấp bộ số liệu này cho các đối tượng sử dụng. Báo cáo kiểm tra các chỉ số chính về các khía cạnh của ĐMST trong DN ở Canada và so sánh với các chỉ số của nhóm các quốc gia tiên tiến khác, đặc biệt là Hoa Kỳ. Các khía cạnh cụ thể được đo lường bao gồm: các đầu vào, các kết quả đầu ra, các kết quả như thị phần hoặc tăng trưởng xuất khẩu, ciệu suất của từng cá nhân. Như vậy, báo cáo thực hiện dựa trên một bộ dữ liệu được xây dựng hệ thống các chỉ số cụ thể nhằm đánh giá về tính ĐMST của DN dựa trên các khía cạnh đầu vào, đầu ra, kết quả.
Đây cũng là những khía cạnh cơ bản thường được sử dụng để nghiên cứu thực trạng ĐMST của DN tại nhiều quốc gia trên thế giới. Bên cạnh các khía cạnh ĐMST ở trên, nhiều nghiên cứu còn quan tâm tới khía cạnh duy trì ĐMST hay sự bền bỉ trong ĐMST của DN, điển hình như nghiên cứu của Triguero and Córcoles (2013) với số liệu về nhóm các công ty sản xuất của Tây Ban Nha trong giai đoạn 1990–2008. Dữ liệu này trong giai đoạn 1990– 2008 giúp nhóm tác giả phân tích sâu về sự phát triển của quá trình đổi mới theo thời gian vì bao gồm các câu hỏi liên quan đến hoạt động R&D, bằng sáng chế, đổi mới sản phẩm và quy trình, cũng như lượng dữ liệu đáng kể về các quyết định liên quan đến quy trình sản xuất, khách hàng và các nhà cung cấp, thị trường được bao phủ, ngoại thương và việc làm. Theo các tác giả, quyết định tiến hành ĐMST và duy trì ĐMST của DN phụ thuộc vào cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài.
Mô hình đề xuất của tác giả cho thấy, xác suất trở thành DN thực hiện R&D hoặc/và DN duy trì cải tiến bền bỉ được giải thích bởi các cơ hội công nghệ, điều kiện nhu cầu thị trường, khả năng thích hợp (các yếu tố bên ngoài) và năng lực của công ty như cơ chế tổ chức, cơ chế đưa ra quuyết định… Sau khi kiểm soát sự không đồng nhất và các điều kiện ban đầu chưa quan sát được và sử dụng mô hình probit hiệu ứng ngẫu nhiên động do Wooldridge (2005) đề xuất, nhóm tác giả kết luận rằng một số yếu tố quyết định đến việc duy trì ĐMST của DN tương tự như tác động tới quyết định thực hiện ĐMST. Trong số các yếu tố bên ngoài hay yếu tố môi trường, tính năng động của thị trường ảnh hưởng đến cả quyết định ĐMST và việc duy trì đổi mới. Về đặc điểm cụ thể của DN, quy mô và việc thuê ngoài cũng có tác động tích cực đến cả hai quá trình. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hành vi đổi mới 8 trong quá khứ rõ ràng mang tính quyết định đến việc thực hiện ĐMST hoặc hoạt động R&D của DN trong hiện tại, lớn hơn tất cả các yếu tố bên trong và bên ngoài khác.
Các nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, một số báo cáo và nghiên cứu về thực trạng ĐMST ở cấp DN được thực hiện từ những năm 2010 đến nay với sự hỗ trợ và hợp tác của các cơ quan, tổ chức quốc tế. Trong khuôn khổ dự án “Nghiên cứu khu vực DN” do Cơ quan phát triển quốc tế Đan Mạch (DANIDA) tài trợ, Báo cáo “Năng lực cạnh tranh ở cấp độ DN tại Việt Nam” được xuất bản hàng năm từ 2010 đến 2014. Báo cáo tổng hợp được công bố vào năm 2014 đã thu thập và tổng kết kết quả của bốn vòng khảo sát từ năm 2010 đến 2013, nhằm cung cấp sự hiểu biết chi tiết về động lực công nghệ, năng suất và lợi nhuận trong lĩnh vực kinh doanh tư nhân đang phát triển tại Việt Nam (CIEM, GSO and UoC, 2013). Các nội dung chính được đánh giá trong báo cáo bao gồm: những chính sách công nghệ và ĐMST của Việt Nam, thực trạng năng lực cạnh tranh và công nghệ của các DN Việt Nam, hiệu ứng lan tỏa theo chiều dọc (liên kết xuôi, liên kết ngược), các hướng đi khác đến ĐMST và trách nhiệm xã hội của DN.
Báo cáo này đã có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà nghiên cứu và nhà quy hoạch chính sách, cung cấp các thông tin quý giá và phân tích sâu sắc về mối quan hệ giữa công nghệ, năng suất và lợi nhuận, từ đó đóng góp vào việc xác định các yếu tố quan trọng và đề xuất chính sách hỗ trợ để thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực tư nhân tại Việt Nam. Bên cạnh nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ở cấp độ DN ở trên, từ năm 2005 đến 2015, nghiên cứu về đặc điểm môi trường kinh doanh ở Việt Nam cũng cho thấy nhiều thông tin về thực trạng ĐMST của DN ở Việt Nam. Báo cáo “Đặc điểm môi trường kinh doanh ở Việt Nam: Kết quả điều tra DN nhỏ và vừa năm 2015” được xây dựng dựa trên các thông tin về DN vừa và nhỏ được điều tra hai năm một lần từ năm 2005 đến 2015 tại 10 tỉnh thành của Việt Nam (CIEM, UoC and ILSSA, 2016). Báo cáo cung cấp tổng quan về một số kết quả chính từ cuộc điều tra năm 2015, so sánh với kết quả của vòng điều tra 2013 và các vòng điều tra trước đó.
Cũng để đánh giá hiện trạng ĐMST của DN, Phùng Xuân Nhạ và Lê 9 Quân (2013) đã sử dụng phương pháp khảo sát bằng phỏng vấn với 583 DN tại 6 địa điểm ở Việt Nam (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Lạt). Nghiên cứu của Cirera và cộng sự (2021) không đánh giá trực tiếp về ĐMST tại Việt Nam mà tập trung vào việc áp dụng công nghệ của DN. Kết quả cho thấy các DN tầm trung ở Việt Nam có khoảng cách lớn về công nghệ so với DN ở phía bắc Brazil, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất.0 còn khá mới mẻ và việc áp dụng gặp nhiều rào cản, chủ yếu do chất lượng nhân lực, đặc biệt ở cấp quản lý. Ngoài ra, DN thiếu hợp tác với các tổ chức giáo dục và trường đại học, cùng với việc ngại sử dụng thông tin từ bên ngoài, dẫn đến khó khăn trong nâng cấp công nghệ.
Nghiên cứu cung cấp cái nhìn tổng quan ở cấp độ vĩ mô theo cách tiếp cận “từ trên xuống dưới” (top-down) nhưng chưa đưa ra khuyến nghị cụ thể cho từng DN. Các công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp 1. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Joseph A. Schumpeter năm 1934 là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến ĐMST của DN.
Schumpeter coi doanh nhân là người đổi mới, đóng vai trò tiên quyết trong ĐMST. Doanh nhân thực hiện các kết hợp sản xuất mới để cải thiện kết quả, tạo ra thặng dư và lợi nhuận. Ông cũng cho rằng độc quyền có tác động tích cực đến ĐMST, vì nó khuyến khích doanh nhân chấp nhận rủi ro để đổi mới trong sản xuất. Mặt khác, cũng theo Schumpeter, các DN ĐMST này sẽ trở thành hình mẫu cho các doanh nhân khác noi theo và sự xuất hiện của nhiều doanh nhân mới khiến lợi nhuận kinh doanh do ĐMST giảm dần trong vòng xoáy của cạnh tranh và tạo ra trạng thái cân bằng mới.
Điều này khiến cho vai trò của tinh thần kinh doanh của nhà lãnh đạo hay doanh nhân là rất quan trọng đối với ĐMST. Họ sẽ là những người luôn luôn phải tìm cách bứt phá khỏi trạng thái cân bằng của thị trường, chấp nhận rủi ro để tìm kiếm lợi nhuận từ những cải tiến mới. Theo Schumpeter, một số chủ DN sẽ có khả năng tìm kiếm các cơ hội đổi mới nhiều hơn những người khác. Ngoài ra, các đặc điểm tính cách của chủ sở hữu có thể ảnh hưởng đến xu 10 hướng tập trung của họ vào các hoạt động sáng tạo hay các hoạt động quản trị hàng ngày của DN (Schumpeter, 1934).
Một trong những nghiên cứu đầu tiên tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến ĐMST của DN là nghiên cứu của Mohr (1969). Trong nghiên cứu, tác giả đã thu thập số liệu từ 93 tổ chức y tế địa phương để chứng minh cho giả thuyết mức độ đổi mới tỷ lệ nghịch với những trở ngại và tỷ lệ thuận với những động lực đổi mới cũng như sự sẵn có của các nguồn lực liên quan.