Chương 1. Tổng quan và đánh giá tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài Chương 2. Những vấn đề lý luận về quản trị doanh nghiệp nhà nước và năng lực cạnh tranh của DNNN. Thực trạng quản trị doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam.
Giải pháp đổi mới quản trị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước. TỔNG QUAN VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Ở nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến từng vấn đề riêng lẻ về quản trị doanh nghiệp, quản trị DNNN và năng lực cạnh tranh của DNNN.
Tiêu biểu trong số đó có các công trình dưới đây: 1. Nhóm công trình nghiên cứu quản trị công ty (corporate governance) và quản trị kinh doanh Có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến khái niệm quản trị doanh nghiệp. Một trong những nghiên cứu sớm nhất là tác phẩm The Modern Corporation and Private Property của Berle and Means (1932). Tác phẩm này bắt đầu đề cập tới khái niệm quản trị công ty và sau này cũng trở thành cơ sở cho nhiều nghiên cứu khác.Quản trị công ty ở đây được hiểu là quá trình, các thủ tục, chính sách, quy định, luật pháp và thể chế để định hướng cho tổ chức và doanh nghiệp cách thức hành động, điều hành và kiểm soát các hoạt động của mình để đạt được mục tiêu đề ra.
Wong (2004) Improving Corporate Governance in SOEs: An Integrated Approach (Cải thiện quản trị doanh nghiệp nhà nước: phương pháp tiếp cận tích hợp) là công trình tiêu biểu nhất đề cập tới đổi mới quản trị DNNN do vị trí vai trò quan trọng của nó mặc dù tác giả xác định thời đại ngày nay tư nhân hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Wong nhấn mạnh kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp của một số nước đã phát triển như New Zealand, Thụy Điển để chứng minh rằng việc các quốc gia luôn nỗ lực thay đổi các phương thức quản trị DNNN để nâng cao chất lượng hoạt động của nó. Tuy nhiên, đổ mới (Improving) quản trị DNNN là vẫn là những thách thức to lớn đặt ra đối với các DNNN ở các nước hiện nay. La Porta, Silanes và Shleifer (2000) cho rằng quản trị công ty là một hệ thống các cơ chế mà qua đó các nhà đầu tư bên ngoài (các cổ đông) bảo vệ lợi ích của họ trước nhà đầu tư bên trong doanh nghiệp (nhà quản lý).
Khái niệm này lại nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa người bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. 10 Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cũng có nhiều nghiên cứu, khuyến nghị liên quan đến quản trị công ty bao gồm cả khái niệm về quản trị công ty. Chẳng hạn, Bộ Nguyên tắc Quản trị công ty (2004)1 lần đầu ban hành vào năm 1999 đưa ra các nguyên tắc về quản trị công ty của OECD như quyền cổ đông, bảo đảm bình đẳng giữa các cổ đông, vai trò của các bên liên quan đến quản trị công ty, công bố thông tin và minh bạch, trách nhiệm của Hội đồng quản trị, cũng như các hướng dẫn thực hiện các nguyên tắc này. Bộ nguyên tắc (như luật mềm – soft law) nhằm giúp các nước thành viên và không thành viên của OECD đánh giá và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tổ chức và quản lý cho quản trị công ty và cung cấp các hướng dẫn, khuyến nghị cho thị trường chứng khoán, nhà đầu tư, công ty và các bên khác có vai trò trong quá trình phát triển quản trị công ty tốt.
Khái niệm về quản trị trong Bộ Nguyên tắc Quản trị công ty (2004), như sau: “Quản trị công ty là hệ thống mà các doanh nghiệp được điều hành và kiểm soát. Cơ cấu quản trị công ty quy định việc phân phối quyền lực và trách nhiệm của các thành phần khác nhau tham gia vào doanh nghiệp như hội đồng quản trị, nhà quản lý, cổ đông, các bên có quyền lợi liên quan và việc đặt ra các quy định, thủ tục để ra quyết định đối với các vấn đề của công ty. Bằng cách này, quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu mà theo đó, xác định các mục tiêu của doanh nghiệp, cách thức thực hiện mục tiêu và duy trì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp”. Đây là công trình thể hiện tính khoa học cao chứa đựng các lý thuyết, quan điểm về quản trị công ty thịnh hành tại các nước thành viên OECD có thể áp dụng trong thực tiễn quản trị doanh nghiệp.
Christiansen (2013) nghiên cứu về vấn đề xác định mục tiêu ưu tiên trong các DNNN trong khi thực hiện quản trị công ty và làm thế nào để cân bằng giữa mục tiêu thương mại và phi thương mại. Báo cáo cũng đưa ra các dẫn chứng cụ thể tại 5 quốc gia là New Zealand, Hungary, Israel, Hà Lan và Na Uy đối với việc thực hiện các mục tiêu phi thương mại. Báo cáo cho rằng, mặc dù 5 quốc gia đã thực hiện khá tốt Bộ hướng dẫn quản trị công ty đối với DNNN của OECD nhưng việc đánh giá hiệu quả thực hiện các mục tiêu phi thương mại và lợi ích của các DNNN khi thực hiện 1 Bản gốc do OECD xuất bằng tiếng Anh và tiếng Pháp: OECD Principles of Corporate Governance - 2004 Edition Principles de gouvernement d’entreprise de l’OCDE- Édition 2004 và qua một số lần sửa đổi. 11 các mục tiêu phi thương mại này vẫn chưa đồng đều giữa các quốc gia và tương ứng với bộ hướng dẫn.
Công trình “Corporate Governance: Principles, Policies, and Practices” - Bob Tricker (2015) giới thiệu về quá trình phát triển của quản trị công ty qua giai đoạn l970, l980, l990 và giai đoạn đầu của thế kỷ 2l. Công trình đề cập tới sự ra đời của công ty trách nhiệm hữu hạn và sự phân tách giữa quyền sở hữu ra khỏi hoạt động quản trị điều hành của công ty. Tác giả đưa ra cách định nghĩa về quản trị công ty dưới các khía cạnh khác nhau như: khía cạnh hoạt động, khía cạnh mối quan hệ, khía cạnh kinh tế tài chính, khía cạnh xã hội. Tác giả cũng đưa ra khái niệm cũng như phạm vi của quản trị công ty.
Công trình cũng đề cập và phân tích các lý thuyết về quản trị công ty: lý thuyết đại diện, thuyết chi phí giao dịch, thuyết người quản lý, thuyết nguồn tài nguyên độc lập và một số lý thuyết khác làm cơ sở cho các nghiên cứu về quản trị công ty sau này. Công trình“Corporate Governance: Theories, Principles, and Practices” - John Farrar (2005) đề cập tới những vấn đề như thuật ngữ quản trị công ty, các quy định pháp lý trong luật công ty, án lệ của tòa án và ở nghĩa rộng hơn bao gồm cả lĩnh vực pháp luật tài chính và lao động. Cấu trúc của quản trị công ty được xác định bao gồm vai trò của HĐQT, ĐHĐCĐ, nghĩa vụ của người quản lý, cách hoạt động của ĐHĐCĐ; quyền cổ đông và vai trò của kiểm toán viên và các cơ quan quản lý có liên quan. Cuốn sách cũng đề cập đến những vấn đề về mối quan hệ giữa HĐQT và ĐHĐCĐ, địa vị pháp lý của HĐQT, nghĩa vụ của người quản lý; quyền và nghĩa vụ cổ đông minh bạch và vai trò của kiểm toán viên và ủy ban kiểm toán trong quản trị công ty.
Mako và Chunlin Zhang (2004) có State Equity Ownership and Management in China: Issues and Lessons from International Experience (Sở hữu nhà nước bình đẳng và quản trị kinh doanh tại Trung Quốc: một số vấn đề và bài học kinh nghiệm quốc tế. Đây là công trình đề cập tới đa sở hữu trong doanh nghiệp và vấn đề quản trị kinh doanh tại nhóm doanh nghiệp nhà nước. Nhóm công trình nghiên cứu về quản trị DNNN và đổi mới quản trị DNNN Quản trị DNNN luôn là một vấn đề được nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế cũng như giới khoa học quan tâm. Liên quan tới hoạt động quản trị các doanh nghiệp nhà nước, điển hình là Bộ Hướng dẫn về Quản trị công ty đối với DNNN năm 2006, OECD trong đó đưa ra 6 hướng dẫn cơ bản bao gồm: (i) Đảm bảo khuôn khổ luật pháp hiệu quả cho các DNNN: đảm bảo thị trường cạnh tranh công bằng cho giữa DNNN và doanh nghiệp tư nhân, tránh bóp méo thị trường; (ii) Nhà nước đóng vai trò là chủ sở hữu: Nhà nước là chủ sở hữu chủ động, có thông tin, thiết lập một chính sách sở hữu nhất quán, đảm bảo việc quản trị DNNN được tiến hành một cách minh bạch và có trách nhiệm, với mức độ chuyên nghiệp và hiệu quả cần thiết; (iii) Đối xử công bằng giữa các cổ đông; (iv) Quan hệ với các bên có quyền lợi liên quan: Chính sách sở hữu của nhà nước phải nhận thức đầy đủ trách nhiệm của DNNN đối với các bên liên quan cũng như báo cáo về quan hệ với các bên liên quan; (v) Minh bạch và công bố thông tin: đáp ứng yêu cầu của Quản trị công ty nói chung của OECD; (vi) Trách nhiệm của HĐQT các DNNN: có quyền hạn, khả năng, tính khách quan để thực hiện vai trò tư vấn chiến lược và kiểm soát quản lý với sự chính trực và chịu trách nhiệm về hành động của mình.
Đây có thể là bộ hướng dẫn hoàn chỉnh nhất mà rất nhiều quốc gia tham khảo và xây dựng bộ hướng dẫn quản trị công ty cho riêng các DNNN của họ mà các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi có thể nghiên cứu ứng dụng. OECD cũng đưa ra các báo cáo đánh giá về tình hình quản trị công ty của các DNNN tại các quốc gia thành viên trong Báo cáo “OECD comparative report on corporate governance of state-owned enterprises” (2006). Báo cáo ngoài việc đánh giá chung về các DNNN trong khối OECD còn tổng hợp các đặc điểm chính về quản trị công ty DNNN tại các nước như quan hệ của cổ đông nhà nước đối với các cổ đông khác, mối quan hệ với các bên có quyền lợi liên quan, việc công bố và minh bạch thông tin, hoạt động của hội đồng quản trị trong DNNN. Đây có thể coi là tài liệu tổng hợp và chi tiết về tình hình quản trị công ty của các DNNN tại các nền kinh tế tiên tiến trên thế giới mà luận án của thể tham khảo.
DNNN có thể bao gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa cho đến các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp niêm yết đại chúng hay doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường ở 13 phạm vi quốc tế.