TRUONG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NOL KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC TRONG GIAI DOAN HIỆN NAY HÀ NOL-NGAY 28 THANG 5/2015 MỤC LỤC Trang "Những bắt cập trong công tác quản lý dio tạo tại Trường Đại học Luật HA Nội từ góc nin của người làm công tác giảng day 1S. Nguyễn Thị Dung Kinh nghiệm triển khai công tác quản lý đào tạo đối với hệ đại học chính uy theo hệ thống tin chỉ tại Trường Dai học Ngoại thương, PGS. Lê Thị Thu Thủy “Công tác quản lý học vụ trong dio tạo theo học chế tin chỉ tại Trường “ Đại học Luật Hà Nội hề. Trịnh Thị Thu Hương io tạo theo học chế tín chỉ tại Trường Đại học Thủy lợi 21 Nguyễn Xuân Hai Một số ý kiến đồng góp về đổi mới công tác quan lý đảo tạo tại Trường 27 Đại học Luật Ha Nội TS.
Nguyễn Thị Kim Ngâm Quân lý dio tạo đối với ngành Luật Thương mại quốc tế tại Trường Dai 34 học Luật Hà Nội TS. Nguyễn Thanh Tâm Đổi mới công nghệ thông tin trong quân lý dio tạo hệ đại học chính quy 4 tại Trường Đại học Luật Hà Nội ThS. Phạm Văn Hạnh Điểm mới trong công tác tuyển sinh hệ đại học chính quy năm 2015 của 60 “Trường Đại học Luật Hà Nội TS. 12 Đình Nghị Công tác kế hoạch trong quản lý dio tạo theo học chế tín chí tại Trường, 67 "Đại học Luật Hà Nội THS.
Nguyễn Thu Thuỷ Quin lý đào tạo đối với sinh viên học song bằng, song ngành ~ Kinh 79 nghiên của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Tans Ta Twos TAL vện| |TAUÖNG 54) HỘP LIẬT HÀ NOE Pabua sọc, 'NHỮNG BAT CẬP TRONG CÔNG TAC QUAN LÝ ĐÀO TẠO TAI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TỪ GÓC NHÌN CUA NGƯỜI LAM CÔNG TÁC GIẢNG DẠY TS. Nguyễn Thị Dung Phó Trưởng Khoa Pháp luật Kinh tế Hà Nội Trường Đại học Luật 1.ĐẶT VAN DE VỀ PHAM VI BÀI VIET VÀ GÓC ĐỘ ĐÁNH GIA Quan lý đào tạo trong các trường đại học thường được hiểu với phạm vi rộng, bao gồm các hoạt động quản lý đào tạo đối với giảng viên và quản lý io tạo đối với sinh viên. Truy cập vào Website của nhiều trường đại học như Bai học Cần Thơ, Đại học Đà Nẵng. đều cho thấy cách tiếp cận quy trình quan lý đảo tạo theo hướng này và coi “Quân lý đào tạo ở trường đại học là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý (gồm các cất quản lý khác nhau từ Ban giám hiệu, các phòng, khoa, tổ tôn) đến các đối tượng quản lý gồm giảng viên, sinh viên, cán bộ quản lý cấp dưới, cán bộ phục vụ đào tạo) thông qua việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý nhằm đạt được mục tiêu đào tạo của nha trường”, Quin lý đào tạo đối với giảng viên bao gồm các hoạt động kế hoạch tổ chức day học, quản lý chương trình đào tạo (Ví dụ mở một môn học mới, điều chỉnh môn học.), quan lý đề cương môn học, giáo viên thỉnh giảng.
Quan lý dio tạo đối với sinh viên báo gồm các hoạt động: tuyển sinh, đăng ký học, học lại, rút bớt môn học, xếp lớp, nghỉ học tạm thời, bảo lưu kết quả học tập, lưu, nhận, trả điểm, xét và công nhận tốt nghiệp. công tác hành chính ‘Nhu vậy có thể thấy, quản lý đào tạo là quá trình có sự tham gia của nhiều phòng, ban, khoa chứ không phải là hoạt động chi do Phòng đào tạo của. 66 trường đại học thục hiện, huy nhiên, đây là đền mốt đăm nhiệm: khâu chủ của hoạt động này. Le Quang Sơn, hing wd đồ vẻ quân do 190 theo hoe ch tich trường DH 9 phạm, Tap chí Khoa hoe và Công nghệ - Dp Học Dà Năng số 6(40)2010 “Trong khuôn khổ hội thảo, bài viết chỉ có một số đánh.
sóc độ của người làm công tác giảng dạy và với mục đích tìm ra những vướng mắc cần. tiếp tục tháo gỡ nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý đào tạo trong, điều kiện hiện nay của Trường ĐH Luật Hà Nội. MỘT SỐ BAT CẬP TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ TRIỂN. KHAI KÉ HOẠCH ĐÀO TẠO.
Một cách khách quan, có thé nhận định rằng, công tác kế hoạch đào tạo của nha trường được thực hiện rất có kế hoạch. Kế hoạch đào tạo (giảng day ‘va tổ chức thi) của một năm được lập trình rất bai bản, sớm và khoa học. Điều nay giúp bộ môn và các giáo viên có thé chủ động lên kế hoạch chuẩn bị hồ sơ môn học và chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ việc giảng dạy, đặc biệt là đối với những môn học mới. Bộ môn cũng có thể đề xuất điều chỉnh kế.
hoạch cho phù hợp với điều kiện mỗi bộ môn, làm cho Kế hoạch đảo tạo có tính khả thi cao sau khi được ban hành chính thức. Điều này đã được minh citing quanhiễu nấm: Tuy nhiên, từ góc độ của người trực tiếp triển khai kế hoạch giảng day và tổ chức thi, coi thi, chúng tôi có một số phát hiện như sau: (1) Trước khi lập kế hoạch giảng dạy, Phòng dio tạo phát tới các bộ môn bản đăng ký sé lượng giảng viên tham gia giảng hệ vừa hoc vừa làm của mỗi tháng, song dường như thông tin này ít được sử dụng, vì rằng, số lượng này mỗi kỳ có thể con số đăng ký nhiều ít khác nhau, song lịch giảng thì vẫn xếp như thế. Tất nhiên ở thời điểm hiện tại, giờ tại chức ít nên đây không còn. là vấn đề quá khó khăn khi bộ môn phải xoay xở nguồn giáo viên đáp ứng tốt cho cả 2 hệ đảo tạo; (2) Kỳ thi Dot I dành cho các môn chuyên đề 5 tuần được xếp giữa kỳ) học 16 tudn, Kỳ thi này có thé là cần thiết và giải quyết được nhiều vấn đẻ, song thực tế lên lớp giảng dạy ở khoảng thời gian này cho thấy tình trạng, lớp.
học có thể rất vắng, do các em nghỉ học ôn thi. Đợt thi tháng 4,5/2015 vừa rồi, các lớp mã ngành LKT vốn dĩ có sinh viên di học khá chăm, lớp đông, nhưng. các tuần cuối tháng 4 và đầu tháng 5, lớp vắng hin và lý do là các bạn không, kịp ôn sẽ nghỉ học để ôn thi (3) Vấn đề tuần 0 đối với môn 15 tuần, nhìn chung lớp rất vắng. Dường, như sinh viên thấy việc đến lớp trong tuần này là không cần thiết.
Do vậy, có lẽ nên xem lại nội dung, mục đích, ý nghĩa của Tuần này để tránh lãng phí. Sẽ phù hop hơn nếu giảm số lượng sinh viên cho 1 buổi hoặc tăng hội trường được sử dụng hỏi thi (Nếu bộ môn có cơ hội đăng ký thông tin về số lượng, sinh viên và hội trường cần dùng thì các kỳ thi vấn đáp sẽ triển khai tốt hon); ~ Đối với thi viết, giáo viên đi coi thi và lãnh đạo khoa kiểm tra phòng, thi nhận thấy một số phòng thí sinh viên ngồi quá đông và hơi quá tải, đặc. biệt nhà E, 1 bài dài ngồi 4 — 5 em thì việc nhìn bài nhau đôi khi là “do hoàn cảnh xô day”, Cũng số lượng như vậy, nếu xếp thi tại các phòng học nhà B thì dn hơn hoặc | lớp tín chí phải chia 3 phòng thi thay vì chia 2 như hiện nay. UL MỘT SỐ BAT CẬP TRONG CONG TÁC HANH CHÍNH GIÁO.
VU THUỘC LĨNH VỰC QUAN LÝ ĐÀO TẠO. 'Đây 1a mảng công việ: phức tạp, liên quan nhiều đến nội quy, quy chế đào tạo. Chuyển sang đào tạo theo hệ thống đào tạo theo tín chỉ, công việc này cảng phức tạp với sự xuất hiện của môn tự bắt buộc, môn tự chọn, lớp. truyền thống, lớp tín chỉ.
Việc tuyển sinh, đăng ký học, học lại, rút bớt môn học, xếp lớp, nghỉ hoc tạm thời, bảo lưu kết quả học tập, lưu, nhận, trả điểm, xét và công nhận tốt nghiệp. cũng đồi hỏi nhiều thay đổi để phủ hợp với tinh hình mới.Thực tế nhập học, đăng ký học, lưu nhận, trả điểm, xét tốt nghiệp. vẫn diễn ra theo đúng kế hoạch đã nói lên quá trình chuyển đổi quy trình quản lý đào tạo về cơ bản đã diễn ra kịp thời và đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới. Từ góc độ người lim công tác giảng d lấy còn có một hiện tượng chưa thuận lợi cho giáo viên, sinh viên ở mảng công việc này: (1) Việc xếp lớp cho sinh viên học lại khá muộn, có thể sau 2 - 3 tuần học thém chí lâu hơn.
Nếu giáo viên làm chặt thì điều kiện thi của các sinh viên này rất chênh vênh, nhất là với môn chuyên đề 5 tuần: (2) Danh sách nhóm sinh viên: Khi điểm danh và lên điểm bài tập trong quá trình học, phát hiện có những sinh viên đã thôi học nhưng vẫn có tên trong danh sách. Giáo viên chỉ được biết qua sinh viên rằng bạn đã không di học nhiều kỳ. Nên loại bỏ những sinh viên này được không dé thuận tiện cho. việc quan lý lớp và tránh nhằm lẫn trong quản lý điểm và điều kiện dự thi.
(3) Việc công bố danh sách sinh viên không đủ điều kiện thi, các bộ môn cũng chưa có cách làm thông nhất (dán ở bộ môn, đán ở khoa, ding website của trường), việc quản lý đơn xin hoãn thi và sinh viên hoãn thi cũng khá phức tạp dưới góc nhìn của giáo viên và ở các lần thỉ sau, giáo viên hoàn toàn lệ thuộc vào công tác giáo vụ, không kiểm soát hết được sinh. viên thi đợt 2 thuộc loại bỏ thi hay hoãn thi lần 1 (Về vấn nay cũng xin ý kiến các thay cô để chúng tôi có thêm kinh nghiệm, có thé vấn đề xuất phát từ cách làm của chúng tôi); (4) Thủ tục hủy môn và thay thế bằng môn học khác: quy trình khá phức tạp, sinh viên phải có đơn với rất nhiều chữ ký đồng ý, xác nhận mà. thực sự là thấy chỉ cần phòng đào tạo giải quyết việc này là đủ. (5) Vấn đề nhập điểm, trả điểm: Khi công việc này được chuyển giao.
cho giáo viên bộ môn đảm nhiệm, sau gần 1 kỳ học, nha trường đã có những, điều chỉnh kịp thời để việc nhập điểm, trả điểm diễn ra bình thường. Đến thời điểm này, theo ý kiến của giáo viên trực tiếp thực hiện nhập điểm, còn có 2 vấn đề cần được nếu giải quyết tiếp được thi sẽ tốt hon, đó là: (i) Khi giáo viên nhập sai thì có thể sửa ngay. Việc sửa điểm nhập sai thông qua tờ trình của bộ môn chi nên áp dụng khi sai sót được phát hiện sau khi đã bản giao danh sách nhập điểm. (ii) Biểu mẫu nhập điểm nên có ngay khi bắt đầu môn học é én cho việc nhập các bài tập hay kiểm tra giữa ky.