Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Thành Thọ với đề tài "Những vấn đề pháp lý về đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện cải cách kinh tế ở nước ta hiện nay" (Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008) tiếp cận vấn đề cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN) dưới góc độ khoa học pháp lý.
Về tính cấp thiết, trong nền kinh tế đa thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ định hướng và điều tiết kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, thực tiễn nhiều năm cho thấy số lượng DNNN duy trì ở mức cao nhưng phần lớn hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài. Thách thức này gia tăng khi khả năng bao cấp của Nhà nước giảm dần và Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Mặc dù tiến trình đổi mới DNNN đã bắt đầu từ các văn bản như Quyết định 25/CP ngày 21-01-1981, Quyết định 146/HĐBT ngày 25-8-1982 và được đẩy mạnh sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 cùng các chính sách từ sau năm 1990, thực tế vẫn tồn tại nhiều hạn chế:
- Các DNNN cổ phần hóa chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ; tổng vốn nhà nước theo sổ sách kế toán của các DNNN cổ phần hóa mới chỉ chiếm 18,25% toàn bộ vốn nhà nước tại các DNNN.
- Việc cổ phần hóa chưa triển khai đối với các doanh nghiệp quy mô lớn như tổng công ty nhà nước; sắp xếp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm diễn ra chậm.
- Việc thành lập các tổng công ty, tập đoàn kinh tế mang nặng tính cơ học, mệnh lệnh hành chính, thiếu sự gắn kết nội tại theo quy luật kinh tế.
- Cơ chế cơ quan chủ quản (Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) can thiệp sâu vào hoạt động của doanh nghiệp vẫn tồn tại phổ biến.
Về mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, mục đích tổng quát của luận án là xác định phương hướng và xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc đổi mới và phát triển DNNN tại Việt Nam trong giai đoạn cải cách kinh tế. Để thực hiện mục đích đó, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp nhà nước, phân biệt doanh nghiệp nhà nước với các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam để có cách hiểu đúng về loại hình doanh nghiệp này từ góc độ pháp lý.
- Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển quan niệm pháp lý về doanh nghiệp nhà nước cũng như sức ép phải thay đổi các quan niệm này.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng những vấn đề pháp lý chủ yếu về đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong gần hai thập kỷ qua.
- Đề ra những định hướng và giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh việc đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các vấn đề pháp lý liên quan đến quá trình đổi mới và phát triển loại hình doanh nghiệp nhà nước.
- Phạm vi không gian: Trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý từ năm 1990 đến hết tháng 6 năm 2007.
- Giới hạn phạm vi: Luận án không đề cập tới các vấn đề khác thuộc nội dung sắp xếp lại DNNN như thành lập mới, phá sản, giải thể, sáp nhập, giao, bán, khoán hoặc cho thuê DNNN.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan, tác giả điểm lại các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế tiếp cận vấn đề cải cách, đổi mới DNNN từ các góc độ kinh tế và pháp luật:
Các công trình nghiên cứu trong nước tiêu biểu bao gồm:
- Công trình nghiên cứu tổng hợp về đổi mới DNNN: "Đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam" do Võ Đại Lược chủ biên (Nxb Khoa học - Xã hội, Hà Nội, 1997).
- Các công trình chuyên sâu về cổ phần hóa và quản lý sau chuyển đổi: "Cổ phần hóa và quản lý doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa" do Lê Văn Tâm chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004); "Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - những vấn đề lý luận và thực tiễn" do Lê Hồng Hạnh chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004).
- Nghiên cứu dưới góc độ luật kinh tế: "Chuyên khảo Luật kinh tế" của Phạm Duy Nghĩa (Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2004).
- Báo cáo chính sách và mô hình quản trị: "Báo cáo nghiên cứu mô hình quản lý doanh nghiệp nhà nước, được và chưa được, các giải pháp kiến nghị sửa đổi" của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM, tháng 5/2005); "Khung pháp luật về doanh nghiệp nhà nước - thực trạng và phương hướng hoàn thiện" của Trần Tiến Cường (2000).
- Các luận văn cao học chuyên ngành luật: Luận văn của Bùi Văn Lành về "Những vấn đề của pháp luật về doanh nghiệp nhà nước và giải pháp khắc phục" (2000); luận văn của Nguyễn Quang Vĩ về "Pháp luật về doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích - thực trạng và các giải pháp đổi mới" (2002).
- Các bài báo khoa học chuyên ngành trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật: Nguyễn Minh Mẫn với "Một số vấn đề pháp lý về tổ chức và hoạt động của Tổng công ty theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam" (số 1/1999); Nguyễn Như Phát với hai bài viết "An toàn pháp lý trong doanh nghiệp nhà nước" (số 6/1997) và "Quyền tự chủ về vốn và tài sản của doanh nghiệp nhà nước" (số 3/1999).
Về nghiên cứu quốc tế, luận án dẫn chiếu:
- Tài liệu của UNDP và CIEM: "Chính sách phát triển kinh tế - kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc" (tập I, II và III).
- Kỷ yếu hội thảo: "Diễn đàn cải cách kinh tế Việt Nam - Trung Quốc" (ngày 13-14/5/2004 tại Hà Nội do CIEM, CIRD và UNDP tổ chức).
- Các tài liệu nghiên cứu và hướng dẫn quản trị DNNN của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) công bố từ năm 2000 đến 2007.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Tác giả nhận định các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu ở góc độ kinh tế hoặc chỉ tập trung vào các khía cạnh đơn lẻ, giải pháp kỹ thuật cụ thể. Chưa có công trình nào ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu có hệ thống về sự vận động và phát triển của quan niệm pháp lý về DNNN (từ khái niệm "xí nghiệp quốc doanh" sang mô hình "công ty thương mại"), làm rõ địa vị pháp lý, tính chất pháp nhân và các vấn đề pháp lý nảy sinh khi Nhà nước tham gia với tư cách là cổ đông, chủ sở hữu vốn trong doanh nghiệp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết và phương pháp luận pháp lý:
- Phương pháp luận nền tảng: Triết học Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ trương sắp xếp, đổi mới DNNN.
- Khung lý thuyết và khái niệm: Luận án sử dụng các học thuyết kinh tế - pháp lý như học thuyết "Bàn tay vô hình" (chủ nghĩa tự do kinh tế), học thuyết "Bàn tay hữu hình" của John Maynard Keynes về sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế; hệ thống khái niệm về tư cách pháp nhân theo Bộ luật Dân sự 2005; các khái niệm doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (1995, 2003) và Luật Doanh nghiệp (1999, 2005).
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và so sánh pháp luật, bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật: Đánh giá nội dung các điều luật, văn bản dưới luật điều chỉnh cơ cấu tổ chức và hoạt động của DNNN qua các thời kỳ.
- Phương pháp lịch sử: Theo dõi tiến trình biến chuyển của quy định pháp luật về DNNN tại Việt Nam gắn liền với các mốc cải cách kinh tế (1945, 1977, 1988, 1991, 1995, 2003).
- Phương pháp so sánh luật học: Phân tích đối chiếu quy định pháp luật và mô hình DNNN của Việt Nam với thông lệ quốc tế (Cộng đồng châu Âu - EC, UNIDO, IMF, WB, OECD) và pháp luật các quốc gia như Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Italia, Nhật Bản, Thụy Điển, Phần Lan, Brazil, Mexico, Trung Quốc.
- Nguồn tư liệu và dữ liệu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ năm 1945 đến tháng 6/2007; số liệu thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê; báo cáo của CIEM, các bộ ngành chủ quản; tài liệu, báo cáo kinh tế của Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, UNIDO và OECD.
Nội dung chính theo từng chương
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM
Chương này tập trung làm rõ hai nội dung lớn: lý luận về bản thân DNNN và lý luận về đổi mới, phát triển DNNN.
Về quan niệm doanh nghiệp nhà nước:
- Tiếp cận quốc tế: Cộng đồng châu Âu (EC) và UNIDO xác định DNNN dựa trên tiêu chí quyền sở hữu, mức độ kiểm soát và nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh/dịch vụ. Pháp luật nhiều nước (Thụy Điển, Phần Lan, Brazil, Mexico) quy định tiêu chuẩn định lượng là Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc cổ phần chi phối.
- Quá trình phát triển khái niệm tại Việt Nam qua các mốc pháp lý:
- Năm 1945: Khái niệm "doanh nghiệp quốc gia" là doanh nghiệp thuộc sở hữu của quốc gia và do quốc gia điều khiển (Sắc lệnh 1945).
- Giai đoạn kế hoạch hóa tập trung: Điều lệ năm 1977 (Nghị định 93/CP) xác định "xí nghiệp công nghiệp quốc doanh" là đơn vị cơ sở sản xuất kinh doanh theo kế hoạch nhà nước từ trung ương. Điều lệ năm 1988 bổ sung dấu hiệu tư cách pháp nhân và hạch toán kinh tế độc lập nhưng quyền tài sản vẫn thuộc Nhà nước.
- Nghị định 388/HĐBT (ngày 20/11/1991): Lần đầu tiên thuật ngữ "doanh nghiệp nhà nước" xuất hiện chính thức trong văn bản pháp luật, xác định là tổ chức kinh doanh do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu.
- Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995: Xác định DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư 100% vốn, thành lập và tổ chức quản lý, phân chia thành doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích.
- Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003: Định nghĩa DNNN mở rộng thành tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối (>50%), tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
Về vai trò của DNNN trong hai mô hình kinh tế:
- Trong kinh tế kế hoạch hóa tập trung: DNNN là công cụ trực tiếp thực hiện kế hoạch nhà nước, cung cấp phần lớn sản phẩm, dịch vụ. Dữ liệu văn bản phản ánh:
- Tại Trung Quốc: Năm 1978 kinh tế công cộng chiếm 99% GDP; năm 1980 khu vực nhà nước chiếm 60% GDP.
- Tại Liên Xô: Cuối thập niên 1980 tạo ra 98-99% thu nhập quốc dân; Ba Lan: 80%; Rumani: 82%.
- Tại Việt Nam: Đầu năm 1990 có 12.084 DNNN (tạo 32,5% GDP); đầu năm 1995 giảm còn khoảng một nửa số lượng nhưng chiếm 42,2% GDP. Tỷ trọng sản phẩm do DNNN cung cấp đạt mức chi phối tuyệt đối ở các ngành năng lượng:
| Lĩnh vực sản xuất |
Tỷ trọng khu vực nhà nước năm 1986 |
Tỷ trọng khu vực nhà nước năm 1990 |
| Điện năng |
99,9% |
99,8% |
| Nhiên liệu |
98,0% |
99,7% |
- Trong kinh tế thị trường: DNNN trải qua 3 thời kỳ phát triển:
- Thời kỳ công nghiệp hóa (thế kỷ XIX): Nhà nước đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng, hạ tầng mà tư nhân chưa đủ vốn hoặc e ngại rủi ro (ví dụ thời kỳ Minh Trị ở Nhật Bản từ thập niên 1860-1870; sau đó khủng hoảng tài chính giai đoạn 1877-1880 buộc phải bán lại cho tư nhân vào đầu những năm 1880).
- Thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai: Thuyết Keynes thúc đẩy quốc hữu hóa phục vụ tái thiết. Tại Pháp năm 1982, DNNN chiếm 40% sản xuất công nghiệp, 34% xuất khẩu, 83,9% tín dụng ngân hàng; Anh thực hiện 3 cao trào quốc hữu hóa (1945, 1964, thập niên 1970).
- Thời kỳ từ đầu thập niên 1980 đến nay: Giai đoạn bộc lộ sự kém hiệu quả và thâm hụt ngân sách. Số liệu WB năm 1984 cho thấy tỷ lệ lợi nhuận bình quân của 500 DNNN lớn nhất thế giới chỉ đạt 1,7%; ba tập đoàn nhà nước Italia (IRI, ENI, EFIM) thua lỗ liên tục 1974-1984; năm 1981 có gần 200/244 DNNN Tây Ban Nha thua lỗ; năm 1984 phần lớn DNNN Bồ Đào Nha thu không đủ chi (60 doanh nghiệp cận kề phá sản); ngành bưu điện Nhật Bản thua lỗ liên tiếp (năm 1998: lỗ 62 tỉ yên, năm 1999: lỗ 74 tỉ yên, 6 tháng đầu năm 2000: lỗ 59 tỉ yên), các doanh nghiệp cầu đường nợ Chính phủ 40.000 tỉ yên.
Về các giai đoạn tư nhân hóa tại Anh:
| Giai đoạn |
Thời gian |
Nội dung trọng tâm |
| Giai đoạn 1 |
1979 - 1984 |
Tư nhân hóa DNNN quy mô vừa và nhỏ trong các lĩnh vực có cạnh tranh (khởi đầu bán 5% cổ phần Công ty dầu mỏ Anh quốc tháng 10/1979). |
| Giai đoạn 2 |
1985 - 1987 |
Bán cổ phần các công ty công cộng độc quyền (đến 1988 bán 22,25 tỷ USD cổ phần ở ngành hàng không, gang thép, khí than, đóng tàu). |
| Giai đoạn 3 |
1998 đến nay |
Bán đấu giá rộng rãi chuyển sang cơ chế thị trường. Tỷ trọng DNNN trong sản xuất quốc dân giảm từ 11,1% (1979) xuống 6,5% (1998). |
Về đặc điểm pháp lý và phân loại:
- Đặc điểm pháp lý: DNNN thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội; ở các nước đang phát triển DNNN còn gánh vác mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và điều tiết kinh tế vĩ mô; có "tư cách pháp nhân không đầy đủ" do không có quyền sở hữu tuyệt đối về tài sản, lệ thuộc vào sự phê chuẩn của cơ quan hành chính chủ quản.
- Phân loại theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 gồm 5 hình thức: (1) Công ty nhà nước (độc lập hoặc tổng công ty); (2) Công ty cổ phần nhà nước (100% vốn nhà nước); (3) Công ty cổ phần có cổ phần chi phối của Nhà nước (>50%); (4) Công ty TNHH nhà nước một thành viên; (5) Công ty TNHH nhà nước có từ hai thành viên trở lên.
Về cơ sở kinh tế - xã hội tại Việt Nam: Việc đổi mới xuất phát từ 3 đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, yêu cầu nâng cao sức cạnh tranh, xóa bỏ bao cấp để tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng và thực thi các cam kết hội nhập quốc tế.
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM
Chương 2 phân tích thực trạng hệ thống pháp luật, tình hình thực thi và hiện trạng các mô hình DNNN sau chuyển đổi:
- Thực trạng hệ thống pháp luật: Đánh giá các quy định chung và cơ chế pháp lý về các hình thức đổi mới DNNN, bao gồm cổ phần hóa, chuyển đổi sang công ty TNHH một thành viên, thành lập và tổ chức hoạt động của các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước. Hệ thống pháp luật có sự chuyển biến từ việc áp dụng các quy chế riêng biệt sang xu hướng thống nhất dần với khung pháp luật doanh nghiệp chung.
- Thực trạng thực hiện pháp luật và kết quả:
- Số lượng DNNN đã giảm mạnh từ hơn 12.000 doanh nghiệp (đầu thập niên 1990) qua các đợt sắp xếp, tổ chức lại.
- Những hạn chế trong thực thi: Tiến độ cổ phần hóa tập trung phần lớn ở các doanh nghiệp quy mô nhỏ; tổng số vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đã cổ phần hóa chỉ đạt 18,25% tổng vốn nhà nước trong khu vực DNNN; tiến trình chuyển đổi ở các ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm diễn ra chậm.
- Đánh giá sự can thiệp hành chính: Chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước chưa được tách bạch rõ ràng với chức năng quản lý hành chính nhà nước; các cơ quan chủ quản (Bộ, UBND tỉnh) vẫn can thiệp sâu vào công tác nhân sự, tài chính và điều hành kinh doanh.
- Nguyên nhân: Do nhận thức lý luận chưa thống nhất về vai trò của kinh tế nhà nước; thiếu khung pháp lý đồng bộ về đại diện sở hữu; tâm lý e ngại mất quyền lợi quản lý cục bộ của các bộ, ngành và địa phương.
- Thực trạng DNNN sau chuyển đổi:
- Công ty cổ phần có vốn nhà nước: Bước đầu thích nghi với cơ chế thị trường, huy động vốn ngoài nhà nước, nhưng cơ chế quản lý phần vốn nhà nước thông qua người đại diện còn nhiều bất cập, quyền cổ đông nhà nước thực hiện chưa linh hoạt.
- Công ty TNHH một thành viên: Bản chất sở hữu 100% vốn nhà nước không thay đổi, cơ chế quản trị và trách nhiệm tài sản vẫn chịu sự ràng buộc của cơ quan phê chuẩn.
- Tổng công ty và tập đoàn kinh tế: Việc hình thành theo quyết định hành chính dẫn đến mối liên kết kinh tế giữa các công ty mẹ - con và công ty thành viên chưa thực sự chặt chẽ, tiềm ẩn nguy cơ độc quyền và rủi ro quản trị vốn nhà nước.
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM
Chương này đề xuất các định hướng và nhóm giải pháp pháp lý cụ thể:
- Phương hướng đổi mới, phát triển DNNN: Sắp xếp, thu hẹp phạm vi DNNN chỉ nắm giữ 100% vốn hoặc cổ phần chi phối ở những ngành, lĩnh vực kết cấu hạ tầng then chốt, dịch vụ công ích thiết yếu, bảo đảm an ninh quốc phòng; áp dụng nguyên tắc quản trị doanh nghiệp hiện đại, minh bạch và bình đẳng pháp lý giữa các thành phần kinh tế.
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả:
- Tăng cường quản lý và giám sát của Nhà nước: Hoàn thiện quy chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước, phân định rành mạch giữa quyền chủ sở hữu của Nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh của ban điều hành doanh nghiệp; xóa bỏ hoàn toàn chế độ cơ quan chủ quản hành chính đối với DNNN.
- Đẩy mạnh công tác cổ phần hóa: Mở rộng diện cổ phần hóa sang các tổng công ty quy mô lớn, lĩnh vực tài chính, ngân hàng; đa dạng hóa phương thức bán cổ phần ra thị trường chứng khoán công khai thay vì chỉ phân phối nội bộ.
- Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
- Kiến nghị xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý thống nhất để DNNN, công ty TNHH, công ty cổ phần hoạt động bình đẳng theo một khung luật chung (Luật Doanh nghiệp), xóa bỏ các cơ chế ưu đãi độc quyền hoặc phân biệt đối xử (chỉ định thầu, bao cấp tín dụng, phân bổ hạn ngạch nhập khẩu).
- Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về xử lý nợ, định giá tài sản doanh nghiệp, quyền định đoạt tài sản và trách nhiệm của người đại diện phần vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau chuyển đổi.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định 6 đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:
- Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của quan niệm về DNNN ở Việt Nam qua các thời kỳ, chứng minh tiến trình này diễn ra đúng hướng, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và xu thế chung của thế giới.
- Khẳng định quy luật khách quan: Không phải ý chí chính trị của đảng cầm quyền mà chính các nhân tố kinh tế nội tại (yêu cầu công nghiệp hóa, đòi hỏi khôi phục kinh tế sau chiến tranh, sự thịnh hành của các học thuyết kinh tế) mới là yếu tố quyết định tới sự phát triển hay thu hẹp của khu vực DNNN ở các quốc gia qua các thời kỳ lịch sử.
- Làm rõ yêu cầu khách quan của việc đổi mới và phát triển DNNN trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập WTO tại Việt Nam.
- Phân tích, hệ thống hóa và làm rõ bản chất các hình thức pháp lý của công tác đổi mới, phát triển DNNN (chuyển đổi thành công ty cổ phần, công ty TNHH một thành viên, mô hình công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế).
- Đánh giá toàn diện thực trạng hệ thống pháp luật và kết quả thực hiện pháp luật về đổi mới, phát triển DNNN tại Việt Nam trong giai đoạn gần hai thập kỷ (1990 - tháng 6/2007).
- Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện thể chế pháp luật về doanh nghiệp, tạo lập môi trường kinh doanh thống nhất, bình đẳng giữa DNNN và các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án xác định phạm vi nghiên cứu tập trung vào các vấn đề pháp lý của việc đổi mới và phát triển DNNN từ năm 1990 đến hết tháng 6 năm 2007.
Các hạn chế do giới hạn phạm vi nghiên cứu gồm:
- Luận án không đi sâu giải quyết các hình thức sắp xếp lại DNNN khác như: Thành lập mới, phá sản, giải thể, sáp nhập, giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước.
- Dữ liệu thực tiễn và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được khảo cứu dừng lại ở mốc thời gian tháng 6 năm 2007 (thời điểm sau khi Việt Nam gia nhập WTO và Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực trong giai đoạn đầu).
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu thực trạng và khung pháp lý điều chỉnh mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước sau giai đoạn thí điểm 2007.
- Nghiên cứu cơ chế vận hành của cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước độc lập nhằm xóa bỏ hoàn toàn chức năng chủ quản của các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
- Khảo sát các vấn đề pháp lý về phá sản và xử lý giải thể đối với các DNNN quy mô lớn hoạt động thua lỗ kéo dài.
Giá trị tham khảo
Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp: Cung cấp luận cứ lý luận và thực tiễn để hoàn thiện hệ thống pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh, cơ chế đại diện chủ sở hữu nhà nước.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế và Luật Dân sự: Tham khảo phương pháp tiếp cận so sánh luật học, lịch sử phát triển quan niệm pháp lý về DNNN và địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn nhà nước.
- Giảng viên các cơ sở đào tạo luật học và kinh tế: Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các học phần Luật Thương mại, Luật Kinh tế, Chuyên đề Pháp luật về Doanh nghiệp nhà nước.
- Cán bộ quản lý doanh nghiệp và người đại diện phần vốn nhà nước: Tham khảo cơ sở pháp lý về quyền hạn, trách nhiệm tài sản và cơ chế quản trị trong công ty TNHH một thành viên và công ty cổ phần sau chuyển đổi.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 có điểm gì khác biệt căn bản so với Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995?
Trả lời: Theo Luật năm 1995, DNNN bắt buộc phải do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. Đến Luật năm 2003, DNNN được định nghĩa là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối (>50%), được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Dấu hiệu sở hữu chi phối thay thế cho yêu cầu sở hữu tuyệt đối 100%.
2. Tỷ lệ vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa chiếm bao nhiêu phần trăm tổng vốn nhà nước vào thời điểm tác giả khảo cứu?
Trả lời: Theo số liệu thống kê được dẫn chứng trong luận án, tổng số vốn nhà nước theo sổ sách kế toán của các DNNN đã cổ phần hóa mới chỉ chiếm 18,25% toàn bộ vốn nhà nước tại các DNNN, do quá trình cổ phần hóa chủ yếu diễn ra ở các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.
3. Tại sao luận án khẳng định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp nhà nước có tính "đặc biệt" hoặc "không đầy đủ"?
Trả lời: Do DNNN không có quyền sở hữu đối với tài sản mà chỉ được giao quyền quản lý, sử dụng; các quyết định quan trọng (liên doanh, liên kết, thế chấp tài sản, nộp đơn phá sản) phải chịu sự phê chuẩn, can thiệp của cơ quan chủ quản hành chính. Khi có vi phạm ở nước ngoài, tài sản nhà nước vẫn có nguy cơ bị xử lý do đối tác coi doanh nghiệp là của Nhà nước, làm biến dạng nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn độc lập của pháp nhân.
4. Yếu tố nào giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển hay thu hẹp của doanh nghiệp nhà nước ở các nước theo luận điểm của tác giả?
Trả lời: Tác giả chứng minh rằng không phải yếu tố chính trị hay ý chí của đảng cầm quyền, mà chính các nhân tố kinh tế khách quan (sự nghiệp công nghiệp hóa, yêu cầu khôi phục kinh tế sau chiến tranh, sự thịnh hành của một học thuyết kinh tế như thuyết Keynes hay chủ nghĩa tự do mới) mới là yếu tố quyết định sự tăng giảm của khu vực DNNN qua các thời kỳ.
5. Tiến trình tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước ở Anh diễn ra qua những giai đoạn nào?
Trả lời: Tiến trình tư nhân hóa ở Anh trải qua 3 giai đoạn: Giai đoạn 1979-1984 (tư nhân hóa DNNN quy mô vừa và nhỏ trong lĩnh vực cạnh tranh); Giai đoạn 1985-1987 (bán cổ phần các công ty công cộng mang tính độc quyền); Giai đoạn 1998 đến nay (bán đấu giá rộng rãi chuyển sang cơ chế thị trường).
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Thành Thọ đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và quá trình phát triển quan niệm pháp lý về doanh nghiệp nhà nước trong các nền kinh tế kế hoạch hóa và thị trường. Thông qua việc phân tích thực trạng hệ thống pháp luật và kết quả thực hiện từ năm 1990 đến tháng 6 năm 2007, công trình đã chỉ rõ những vướng mắc về địa vị pháp nhân, cơ chế cơ quan chủ quản và tiến độ cổ phần hóa ở khu vực doanh nghiệp quy mô lớn. Hệ thống phương hướng và giải pháp được luận án đề xuất tập trung vào việc hoàn thiện thể chế quản lý vốn nhà nước, đẩy mạnh cổ phần hóa minh bạch và xây dựng môi trường pháp lý thống nhất, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.