đặt vấn đề về phát triển đặc khu kinh tế tại Việt Nam, dẫn giải một số kinh nghiệm cụ thể của các nước như Singapore, Ấn Độ… Đề cập các gợi ý cho Việt Nam, quan tâm đến xây dựng kế hoạch, nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu phát triển, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, sự liên kết thành chuỗi giá trị, cải thiện cơ sở hạ tầng và nhấn mạnh về vai trò của nhà nước trong phát triển khu kinh tế. Đào Nhất Đào (2014), Những đóng góp lịch sử và chia sẻ bài học kinh nghiệm của đặc khu kinh tế Thâm Quyến trong công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc, [74], đã phân tích những bài học thành công trong cách xây dựng, triển khai mô hình đặc khu kinh tế Thâm Quyến nói riêng, thể chế xây dựng đặc khu kinh tế của Trung Quốc nói chung và bài học cho Việt Nam và Quảng Ninh. Nghiên cứu này chỉ rõ những kết quả mang tính lịch sử như: xây dựng một “thể chế hoàn toàn mới” góp phần phát triển kinh tế xã hội của Trung Quốc, đó là kinh tế thị trường XHCH, từ đó tạo ra cơ chế cho cải cách; thúc đẩy cuộc cách mạng đổi mới quan niệm ảnh hưởng đến hàng tỷ người, thúc đẩy việc hình thành quan niệm phù hợp với kinh tế thị trường XHCN và cải cách sáng tạo văn hoá. Những hạn chế là: vấn đề hướng đầu tư của Chính phủ và nguồn vốn nhà nước còn bất cập; phân phối thu nhập mất cân đối; vấn đề cải cách thể chế còn chậm; lựa chọn phương thức tăng trưởng chưa đảm bảo bền vững.
Gợi ý chính sách: cách tiếp cận và việc lựa chọn để đầu tư, xây dựng khu kinh tế; định hướng mới, việc chuyển hướng tăng trưởng xanh là làm cách mạng về công nghệ, kỹ thuật đối với việc phát triển các ngành kinh tế hiện có; không được để vấn đề cơ sở hạ tầng là rào cản cho sự phát triển; cửa khẩu quốc tế không chỉ là của hai nước, mà phải trở thành giao dịch trung chuyển thương mại quốc tế và nơi tập kết hàng hóa của các nước trong khu vực và quốc tế. Andrew Grant (2014), Các biện pháp thu hút nguồn lực xây dựng và phát triển đặc khu kinh tế, [60], đề cấp đến vai trò của khu kinh tế đến phát triển hiệu K7 quả nền kinh tế, một số yếu tố thành công, trong đó có tầm nhìn và đầu tư dài hạn; những điều cần tránh để không muốn bị thất bại trong phát triển đặc khu kinh tế; phân tích về mối quan hệ giữa việc có một môi trường pháp lý thoáng với tăng trưởng kinh tế, với nền kinh tế thì việc tạo việc làm vô cùng quan trọng. Nghiên cứu chỉ ra những yếu tố chung để đảm bảo thành công, như: cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết, chứ không nên xây dựng tất cả trước khi nhà đầu tư đến; các doanh nghiệp đầu tư lâu dài đóng vai trò hết sức quan trọng; cần nguồn vốn dài hạn cho cơ sở hạ tầng, không có đường tắt nào cho các đặc khu kinh tế mà các bạn phải xây dựng cơ sở hạ tầng một cách dài hạn; tính cạnh tranh là vô cùng quan trọng; các đặc khu kinh tế cần phải gần với các trung tâm kinh tế hiện nay. Khuyến nghị 8 vấn đề trong phát triển đặc khu kinh tế, trong đó có việc thu hút xúc tiến đầu tư, xây dựng thương hiệu, giải quyết các rào cản về đầu tư và thủ tục hành chính… Ngụy Đạt Chí (2014), Thực hiện chuyển đổi chiến lược mô hình phát triển kinh tế từ hướng ngoại sang mở cửa, [79], đã phân tích về mô hình kinh tế mở cửa là một thể chế áp dụng để tham gia vào sự phân công, cạnh tranh quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế, nó nhấn mạnh sự điều phối, mở cửa giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế, chú trọng đến vai trò sắp xếp cơ bản của nền kinh tế thị trường đối với với nguồn tài nguyên trong nước, nhấn mạnh sự phát triển tự do của thương mại, đầu tư mang tính toàn cầu, chú trọng các thể chế thương mại đa phương, chuẩn tắc quốc tế trong việc vận hành nền kinh tế mang tính toàn cầu, chú trọng lợi thế so sánh, ưu thế cạnh tranh của một quốc gia trong thể chế phân công, hợp tác quốc tế, phát triển “mô hình kinh tế mở cửa” trở thành sự lựa chọn chủ yếu của các quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, thời đại “mô hình kinh tế mở cửa”, do mức độ rộng rãi của các quy tắc thương mại đa phương của WTO đưa ra và thực hiện, hầu như có liên quan đến các mặt của thưong mại kinh tế thế giới, dẫn đến việc cần tăng cường hơn nữa hợp tác song phương, đa phương, khu vực, tiêu vùng. Vì vậy, mô hình trong tương lai cũng cần phải dẫn đầu kinh tế mở cửa, thông qua hợp tác trong liên kết ngành để hình thành nên cực tăng trưởng kinh tế mới. K8 Fredric William Swierczek (2014), Quản trị, phát triển nhân lực và tính cạnh tranh của các đặc khu kinh tế: sự phối hợp giữa các doanh nghiệp và các cơ sở giáo dục, [65], đã phân tích vai trò quan trọng của nguồn nhân lực, làm sao phải đào tạo, thu hút nguồn nhân lực có chất lượng, trong đó những chương trình đào tạo, cơ sở đào tạo do chính những doanh nghiệp mở ra để đào tạo nhân viên cho mình, đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho công ty; một số vấn đề liên quan đến quản trị của các KKT, nhất là những chính sách không được mang tính cạnh tranh khiến tăng chi phí cho các doanh nghiệp. Ở cấp độ tỉnh, nghiên cứu nêu một số những khía cạnh liên quan đến khả năng cạnh tranh của các tỉnh; nhấn mạnh đến khía cạnh dịch vụ công, cần phải đáp ứng được nhu cầu giảm thời gian phục vụ với người dân và tỉnh cần có trách nhiệm như thế nào với tính minh bạch đối với các dịch vụ đó.
Khu kinh tế phải tạo ra được việc làm, nhưng điều quan trọng hơn là phải tạo ra thêm giá trị gia tăng của công việc đó. Việc này sẽ giúp gia tăng năng suất, lợi nhuận của đặc khu kinh tế. Thời gian, chi phí của những quy định cũng là yếu tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp, đồng thời cần loại bỏ những chi phí không chính thức, những vấn đề liên quan đến đất đai, chi phí để gia nhập, tham gia vào các đặc khu đều là các yếu tố thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Laura Stone (2014), Phát triển đặc khu kinh tế, [71], nghiên cứu đã phân tích cách tiếp cận của chính phủ thành lập khu kinh tế, đặc khu kinh tế; những vấn đề lưu ý gồm: cụm ngành công nghiệp, các khu chế xuất đồng bộ, điện, nước, giao thông, cơ sở hạ tầng, ưu đãi thuế quan, tinh giản thủ tục hành chính, khu miễn hải quan, mở rộng khả năng tiếp cận thì trường trong và ngoài nước, lao động… Trong đó khẳng định: bên cạnh đầu tư cho cơ sở hạ tầng, cần cấp bách đầu tư phát triển nhân lực địa phương chất lượng cao, đặc biệt đội ngũ quản lý cấp trung trở lên.
Việt Nam ngày càng cần đội ngũ quản lý lãnh đạo khi nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng và tạo ra hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao và ở phân khúc cao cấp. Điều này có thể đạt được thông qua đầu tư cho các cơ sở đào tạo truyền thống và đào tạo nghề. K9 Kari Liuhto (2009), Khu kinh tế đặc biệt tại Liên bang Nga - khu vực phát triển nào cho doanh nghiệp nước ngoài?, [69], nghiên cứu về các khu kinh tế đặc biệt của Liên bang Nga, phân tích nhiều điểm mới về chính sách của các đặc khu kinh tế của nước này, đồng thời nêu những rào cản và khó khăn, trong đó có: mặc dù ưu đãi về thuế của các đặc khu thấp hơn những hàng rào đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài nhưng về lợi nhuận nói riêng lại chưa đủ để hấp dẫn các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Nga. Uy tín thấp về quyền phi vật chất, hệ thống đổi mới sáng tạo nghèo nàn, hình ảnh công nghệ thấp, thiếu cơ chế tài chính liên quan đến nghiên cứu và triển khai và thủ tục hành chính trì trệ đã làm giảm những lợi thế của các đặc khu kinh tế của Nga.
Vai trò ngày càng tăng của các tập đoàn phần nào giảm sự quan tâm của chính phủ đến các doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp nước ngoài trong quá trình đổi mới… 1. Tổng quan các nghiên cứu đã công bố ở trong nước Vương Đình Huệ (2014), Vấn đề xây dựng các đặc khu kinh tế ở Việt Nam, [25], đã đề cập khái quát đến tình hình chung phát triển đặc khu kinh tế của nước ta, một số vấn đề về bối cảnh, cơ hội, thách thức và xu hướng phát triển khu kinh tế của nước ta; xác định tầm quan trọng của việc hoàn thiện thể chế, lựa chọn địa điểm và không gian phát triển khu kinh tế, khu kinh tế đặc biệt, lựa chọn đối tác chiến lược có tiềm lực và kinh nghiệm trong phát triển khu kinh tế. Bộ Công thương (2013), Phát triển khu kinh tế của khẩu ở Việt Nam, [4], tổng quan nhiều nội dung như: (1) Những quy định chung, gồm Luật Biên giới quốc gia và các văn bản hướng dẫn thực hiện; các quy định về xuất nhập khẩu hàng hóa, trao đổi tiền tệ, hoạt động của chợ, đi lại của cư dân biên giới,… (2) Quy hoạch và chính sách của Chính phủ, hướng dẫn của các Bộ về phát triển kinh tế cửa khẩu, đặc biệt là cơ chế, chính sách tài chính đối với khu kinh tế cửa khẩu,…(3) Các khu kinh tế cửa khẩu, bao gồm các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của các Bộ về quy hoạch, thành lập Ban quản lý, cơ chế tài chính, Quyết định của K10 địa phương về quy hoạch chi tiết, cơ chế ưu đãi đầu tư.