mở đầu là cuộc khủng hoảng toàn diện. Nhiều nhóm nghiên cứu được thành lập với sự tham gia của cả một số chuyên gia Việt kiều, đẩy tới sự thay đổi hoàn toàn về quan điểm ngay trong Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần VI (1986), bắt đầu thời kỳ đổi mới. Tác giả đã dành nhiều trang để phân tích những chuyển biến quan trọng trong chính sách kinh tế sau Đại hội VI cho đến năm 1989. Một thời gian ngắn nhưng nhiều thay đổi đã diễn 18 ra như: bước đầu giảm được lạm phát, chấm dứt nạn thiếu đói, lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu gạo, xóa bỏ chế độ tem phiếu, chuyển quan hệ phân phối hiện vật sang quan hệ hàng hóa – tiền tệ, đặc biệt quân đội Việt Nam rút khỏi Campuchia, mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ với cộng đồng thế giới nói chung và Đông Nam Á nói riêng.
Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng ngày càng rõ, sát thực tế hơn về tính tất yếu, mục tiêu, bản chất, đặc trưng, cấu trúc, thể chế và cơ chế vận hành. Khi bắt đầu đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam quan niệm kinh tế hàng hóa có những mặt tích cực cần vận dụng. Trong quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ hơn, kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường là phương thức, điều kiện tất yếu để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tại Đại hội XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đây là bước tiến quan trọng về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015). Để thực hiện được các mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam (2015) cũng xác định cần phải giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước xây dựng được cơ sở kinh tế vững chắc hơn. Trong quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức rõ hơn về chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh 19 tế hoạt động bình đẳng, theo pháp luật, cạnh tranh lành mạnh và đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Trong quan hệ phân phối, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, theo mức đóng góp vốn và thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Tiền lương, tiền công phải được coi là giá cả của sức lao động và do thị trường quyết định.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã quan tâm xây dựng đồng bộ về các loại thị trường, đảm bảo quan hệ cung-cầu, cạnh tranh lành mạnh. Trong thời kỳ đổi mới, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào các quan hệ kinh tế. Thay vào đó, Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chính sách… Để thực hiện được điều này, Nhà nước cần xây dựng và hoàn thiện thể chế, tạo dựng môi trường kinh tế vĩ mô, hạn chế những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Bên cạnh những thành tựu đạt được, Đảng Cộng sản Việt Nam (2015) cũng chỉ ra những hạn chế cần phải khắc phục và đề xuất những giải pháp thúc đẩy công cuộc đổi mới trong thời gian tới.
Từ đánh giá kết quả của quá trình hơn 30 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu: 1/ Trong quá trình đổi mới phải chủ động không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam; 2/ Đổi mới phải luôn quán triệt quan điểm lấy dân làm gốc, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; 3/ Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp, phải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra; 4/ Phải đặt lợi ích quốc gia- dân tộc lên trên hết, kiên định độc 20 lập, tự chủ đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; 5/ Phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội của hệ thống chính trị; Tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015). Về chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và các chính sách của Nhà nước tác động đến hợp tác xã, Liên minh hợp tác xã Việt Nam (2016 - a), đã phân tích quá trình nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về thành phần kinh tế hợp tác xã. Các cơ sở pháp lý cho sự phát triển của HTX cũng ngày càng hoàn thiện. Theo đó, sau mười năm đổi mới, năm 1996 Luật hợp tác xã được ban hành đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho quá trình đổi mới mạnh mẽ tư duy về bản chất HTX.
Lần đầu tiên HTX được khẳng định là một tổ chức kinh tế tự chủ. Nó đã từng bước giúp các HTX cũ thoát khỏi tư duy được xem như một tổ chức nặng về chức năng xã hội đồng thời hạn chế sự can thiệp hành chính của các cơ quan nhà nước. Sự ra đời của Luật hợp tác xã đã tạo ra động lực và sức sống mới cho kinh tế HTX. Các HTX cũ bắt đầu chuyển đổi, hồi phục và phát triển với các nguyên tắc cơ bản của HTX.
Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về phát triển kinh tế tập thể (Nghị quyết 13 -NQ/TW, ngày 18/3/2002) là bước phát triển mạnh mẽ, có tính chất nhảy vọt về tư duy kinh tế tập thể. Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên về kinh tế tập thể kể từ sau đổi mới (1986) đã mở ra cơ hội thuận lợi để củng cố, phát triển HTX trong giai đoạn đẩy mạnh hội nhập kinh tế của Việt Nam với thế giới. Nghị quyết 13-NQ/TW đã khẳng định, kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX có nhiều hình thức, trình độ khác nhau trong các ngành, 21 lĩnh vực. HTX hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Thành viên HTX bao gồm cả thể nhân và pháp nhân, không phân biệt số lượng vốn góp và hoạt động trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ (Liên minh hợp tác xã Việt Nam, 2016-a). Chính phủ đã ban hành và triển khai nhiều chính sách khác nhau nhằm thúc đẩy sự phát triển của HTX. Các chính sách này phần nào có tác động đến sự phát triển của HTX, tuy nhiên tác động của chính sách này còn tương đối hạn chế xuất phát từ sự không rõ ràng trong nhận thức về khái niệm HTX. HTX cần được coi là một tổ chức kinh tế - xã hội hơn là một tổ chức kinh tế thuần túy, thì các chính sách ưu đãi xã hội về mặt đất đai, thuế, đầu tư… mới được thực thi một cách thông suốt và hiệu quả; 3/ Q uy mô vốn nhỏ phản ánh kinh tế HTX đang tụt hậu so với các thành phần kinh tế khác.
Quy mô xã viên lớn và ngày càng ra tăng, phản ánh vai trò của HTX đối với việc giải quyết một số vấn đề xã hội, đặc biệt là ở khu vực nông thôn; 4/ HTX đang phát triển theo những xu hướng cơ bản như: hỗ trợ kinh tế hộ gia đình, gắn với lợi ích cộng đồng và doanh nghiệp hóa HTX. Nghiên cứu này của nhóm tác giả là sự đóng góp có ý nghĩa cả lý luận và thực tiễn về kinh tế tập thể, về HTX, góp phần làm rõ các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước về phát triển HTX (Nguyễn Minh Ngọc và những người khác, 2012). Nguyễn Văn Giàu (2015), đã phân tích những điểm mới, điểm đột phá của Luật Hợp tác xã năm 2012; những thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện Luật Hợp tác xã 2012. Tác giả bài viết đã đề xuất bảy giải pháp để phát triển mô hình HTX kiểu mới một cách bền vững, gồm: Khẩn trương ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn theo quy định và tổ chức triển khai, thực hiện; Nâng cao trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ trong phát triển kinh tế tập thể; Tăng cường sự giám sát của Quốc hội và các cơ quan Quốc hội đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật về HTX; Tăng cường công tác quản lý nhà nước về kinh tế tập thể; Phát huy vai trò của liên minh HTX các cấp trong phát triển kinh tế tập thể, trọng tâm là HTX; Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp 22 liên kết với các HTX; Thường xuyên tổng kết, rút kinh nghiệm trong phát triển kinh tế HTX.